Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi, chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình 2014

Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia đình

Nội dung tư vấn:

Tôi năm nay 27 tuổi có quan hệ ngoài luồng với một người đàn ông 28 tuổi nhưng họ đã nói dối là chưa có vợ, khi tôi biết sự thật là anh ta đã kết hôn năm 26 tuổi, anh ta và vợ cũ chưa có con chung, hiện tại tôi và anh ta đã có một đứa con trai với nhau nhưng anh ta vẫn chưa ly hôn với vợ cũ mà lúc tôi mang thai được 5 tháng a ta đã bỏ đi, quay về sống với vợ cũ xem như không có chuyện gì xảy ra, còn cho vợ cũ chửi rủa, lăng mạ, sỉ nhục tôi, con tôi, gia đình tôi, về mqh giữa tôi và a ta có rất nhiều người hàng xóm xung quanh biết, giấy tờ siêu âm, khám thai định kỳ tôi đều giữ cả, hiện nay a ta đã có con chung với vợ cũ bầu được 3 tháng rồi. Trong quá trình sống chung với tôi anh ta có nhờ tôi vay giúp của ae, bạn bè đồng nghiệp số tiền là 20 triệu đồng nhưng không có giấy vay mượn, nhưng tôi có nhân chứng sống là những người cho vay chứng kiến, vì tin tưởng nên tôi đã đứng ra vay hộ. Bây giờ anh ta bỏ trốn, phủ nhận trách nhiệm về con cái và các khoản tiền tôi đã vay hộ một cách phũ phàng. Vậy xin hỏi luật sư tôi có được quyền đòi lại số tiền đã cho a ta vay và quyền yêu cầu cấp dưỡng cho con trai tôi khi tôi và a ta chưa đăng ký kết hôn không? Nếu tôi khởi kiện thì có bị vi phạm vào luật hôn nhân, gia đình là phá hoại hạnh phúc của người khác không? Nếu nộp đơn tôi gửi đơn về cơ quan nào? Hồ sơ gồm những giấy tờ gì ah? Rất mong luật sư tư vấn và hướng dẫn. Xin cảm ơn!

Theo quy định tại Điều 50 Luật Hôn nhân gia đình 2014, bạn có quyền yêu cầu người này thực hiện cấp dưỡng cho con mình. Tuy nhiên, nếu không thỏa thuận được thì bạn có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện nơi bạn có hộ khẩu thường trú giải quyết.

Đối với hành vi lợi dụng bạn để vay tiền rồi chối bỏ trách nhiệm của người này, bạn có thể tố cáo với cơ quan công an về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 BLHS 1999 sửa đổi, bỏ sung 2009.

Tôi ly hôn chồng đa hơn 2năm,nay tôi có con nhưng chưa làm giây khai sinh vì chưa đăng ki kết hôn nay tôi muốn đăng kí kết hôn đê làm giây khai sinh cho con phải làm sao?trước đây co liên lạc với chồng tôi nhưng chồng tôi nói bị mất giấy xác nhận ly hôn rồi.xin luật sư giúp dùm ,xin cảm ơn.

thủ tục đăng ký kết hôn 

tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn, bạn cần chuẩn bị giấy tờ sau:

1.Tờ khai theo mẫu quy định

2. Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

3. Bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng đề chứng minh về nhân thân.

4. Trường hợp đăng ký kết hôn tại UBND xã, huyện nơi mà người yêu cầu đăng ký kết hôn không thường trú tại xã, phường thị trấn nơi đăng ký kết hôn thì bạn cần có Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Bạn nộp đơn đến Cơ quan tư pháp- Hộ tích của Ubnd cấp xã nơi mình hoặc chồng cũ của mình cư trú.

Nhờ luật sư tư vấn về việc gia đình...hiện nay 2 vợ chồng tôi có chơi 2chưng hụi 500 và. Một chưng 1triệu chơi dùm e chồng 1chưng 500 giờ 2vợ chồng xảy ra mâu thuẫn thì chồng về sống với mẹ chồng còn tôi nuôi con sống với cha mẹ ruột,từ lúc sinh con được 1tháng rưỡi đến nay chồng ra đi không đưa tiền lo cho cho con,kể cả đóng hụi mà hụi của mẹ chồng thì hốt để lại không đóng chồng tôi thì cũng hốt mua xe để lại hụi chết không đóng tôi một mình vừa nuôi con vừa đóng hụi mà lâu lâu chồng lại dành bắt con mà còn hâm dọa đánh tôi trong khi con mới 12tháng chưa vứt sữa vậy tôi nhờ luật sư tư vấn cho tôi về quyền nuôi con và chia tài sản như thế nào khi ly hôn...

Việc giải quyết vấn đề quyền nuôi con và chia tài sản trước tiên sẽ do hai vợ chồng thỏa thuận , nếu không thỏa thuận được sẽ được tòa án giải quyết theo quy định tại Luạt hôn nhân gia đình 2014 như sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.
Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Gia đình em có 4 người: Cha(1971), Mẹ(1969), Em(1994) và Em trai(2002) Hiện nay Mẹ em muốn ly hôn Cha em sau 6 năm ly thân (không chung sống và Cha cũng không liên lạc hay trợ cấp nuôi dưỡng em và em trai), lý do ly thân là do Cha em đã có rất nhiều hành vi bạo lực gia đình với Mẹ và em suốt quá trình chung sống. Nhưng vì một số lý do và hoàn cảnh nên tới tận bây giờ Mẹ mới có thể thực hiện ly hôn. Em có tìm hiểu là ly hôn đơn phương thì phải gửi tới nơi Cha em sinh sống, và phải đi lại để chờ Tòa giải quyết. Nhưng vì nay gia đình em ở tpHCM, còn Cha em thì không liên lạc được và cũng không rõ tung tích (có lẽ là đang sống ở Huế - quê của Cha - Nơi Cha Mẹ từng làm hôn thú) Nên thực sự Mẹ em không biết phải làm thế nào. Vấn đề thứ 2 là lúc còn chung sống với Cha thì bà ngoại em mất và có chia tài sản cho các dì cậu và Mẹ, lúc đó Mẹ lập 1 tờ đơn "Tài Sản Riêng Của Vợ"(2010) để dễ dàng mua nhà (do Cha em hộ khẩu ở Huế, còn Mẹ và em thì hộ khẩu tại nhà Ngoại ở tpHCM) cho nên Cha cũng không có tên trong Hộ khẩu. Trước đó thì gia đình em chỉ thuê nhà để sinh sống .Đơn có chữ ký và sự đồng thuận của Cha. Nhưng nay muốn ly hôn, Mẹ và em đang hoang mang không biết có phải chia đôi tài sản (là căn nhà Mẹ, em và em trai hiện ở) không? Và nếu bây giờ nhà em bán nhà và mua nhà mới với số tiền cộng thêm do Mẹ và em tích góp thì liệu Tờ giấy "Tài sản riêng" đó có thể chuyển cho căn nhà kế tiếp không? Em xin cảm ơn ạ.

Về vấn đề ly hôn khi không rõ bố bạn đang ở đâu, mẹ bạn vẫn có thể nộp đơn xin ly hôn đơn phương mà không cần có chữ ký của bố bạn theo quy đinh tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Về vấn đề chia tài sản, căn nhà này được mua từ tiền thừa kế riêng do bà ngoại để lại. Do đó, mẹ bạn sẽ không phải chia khi ly hôn và mẹ bạn hoàn toàn có quyền bán lại căn nhà mà không cần xuất trinh tờ giấy "tài sản riêng".

Kính gửi luật sư. Tôi và vợ kết hôn tháng 1/2014 có đi đăng ký kết hôn tại nơi tôi ở. Sau một thời gian chung sống do bất đồng nên vợ tôi đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Đến tháng 10/2014 vợ tôi sinh con. Khi ra xã đăng ký khai sinh cho con thì vợ tôi không xuất trình giấy đăng ký kết hôn và xã đã làm giấy khai sinh cho con tôi là ngoài giá thú ( vợ tôi chưa chuyển khẩu về nhà tôi và con mang họ mẹ). Tháng 7/2016 chúng tôi được tòa xử thuận tình ly hôn. Tôi được quyền nuôi con.Do giấy khai sinh của con tôi không đúng tôi đã lên xã để yêu cầu làm lại và đc xã chuyển hồ sơ lên huyện để xem xét, ngày 15/11/2016 huyện có ra quyết định hủy toàn bộ giấy khai sinh do xã cấp vì không đúng sự thât. Tôi muốn xã cấp lại giấy khai sinh cho con tôi đầy đủ có cả bố và mẹ thì được xã yêu cầu mang sổ hộ khẩu và chứng minh nhân dân của vợ tôi lên. Nhưng khi lên nhà vợ tôi để nói chuyện thì bên ngoại gây khó dễ và mẹ cháu có nói là không quan tâm. Vậy xin luật sư tư vấn để tôi có thể làm lại giấy khai sinh cho con tôi được đầy đủ

Bạn cần đề nghị cơ quan công an huyện xác nhận lại thông tin về chứng minh nhân dân của vợ để cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy khai sinh cho con.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật, về luật dân sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua qua email: để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

 Bộ phận Tư vấn Pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê.