Vậy bây giờ tôi muốn ly hôn thì tôi phải nộp đơn tại đâu và nếu trong thời gian thụ lý của tòa để tiến hành hòa giải mà tôi không có mặt thì tòa có tiến hành giải quyết việc ly hôn hay không và thời gian hoàn tất thủ tục là bao lâu? Chúng tôi chưa có con và cũng không có tài sản chung.

Kính mong công ty luật tư vấn cho tôi. Xin cảm ơn!

Người gửi: N.H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân của công ty luật Minh Khuê.

Giải quyết ly hôn khi vắng mặt một bên?

Tư vấn luật hôn nhân trực tuyến - 1900.6162

Trả lời:

(Câu hỏi đang trong quá trình trả lời)

Nội dung trả lời

 

Kính gửi Quý khách hàng!

Cảm ơn Quý khách hàng đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Công ty chúng tôi để tư vấn. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

I/ CƠ SỞ PHÁP LÝ

Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011

II/ PHÂN TÍCH

1. Về việc nộp đơn ly hôn: 

Do thông tin bạn cung cấp không cụ thể trường hợp ly hôn là thuận tình ly hôn hay đơn phương ly hôn nên chúng tôi tư vấn cho bạn theo hai trường hợp sau:

- Trường hợp thuận tình ly hôn: Các bên làm đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Tại điểm h khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi năm 2011 quy định về thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau: “Toà án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”. Như vậy vợ chồng chị có thể lựa chọn tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn khi ly hôn cư trú.

- Trường hợp đơn phương ly hôn: Các bên làm đơn xin ly hôn (có nguyên đơn và bị đơn). Tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi năm 2011 quy định về Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ như sau:

Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này”

a. Đối với ly hôn thuận tình: Theo quy định tại khoản 3 Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự 2004:

"Điều 313. Những người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự

3. Người có đơn yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp theo giấy triệu tập của Toà án.

Người có đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì Toà án hoãn phiên họp. Trường hợp người có đơn yêu cầu đề nghị giải quyết việc dân sự không có sự tham gia của họ thì Toà án giải quyết việc dân sự vắng mặt họ; nếu người có đơn yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự; trong trường hợp này, quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự đó theo thủ tục do Bộ luật này quy định vẫn được bảo đảm."

 

 

Như vậy, ở trường hợp này, nếu vợ chồng bạn thuận tình ly hôn mà có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt lần thứ nhất thì Toàn án sẽ vẫn giải quyết ly hôn theo trường hợp giải quyết việc dân sự vắng mặt, còn nếu triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự.

b. Đối với ly hôn đơn phương: Theo quy định tại Điều 199 Bộ luật tố tụng sửa đổi năm 2011:

Điều 199. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Toà án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên toà.

2. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên toà, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

b) Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

 

c) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Toà án quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.”

Ở trường hợp này, nếu bạn là nguyên đơn (yêu cầu ly hôn) mà bạn vắng mặt lần thứ nhất thì Hội đồng xét xử sẽ hoãn phiên tòa (trừ trường hợp bạn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). Đến lần triệu tập thứ hai mà bạn vẫn vắng mặt thì sẽ được coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án cũng sẽ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án (trừ trường hợp bạn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Như vậy, khi bạn không có mặt tại phiên tòa thì tòa sẽ căn cứ vào những quy định trên để xử lý việc giải quyết ly hôn.

2. Thời hạn giải quyết:

Căn cứ theo điểm a) khoản 1 và khoản 3 Điều 179 Bộ luật tố tụng Dân sự 2004 quy định về Thời hạn xét xử như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

3. Trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng.”

Theo đó, Điều 27 của Bộ luật tố tụng Dân sự thì quy định về “Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình

Như vậy, Tòa án sẽ tiến hành hòa giải và chuẩn bị xét xử vụ việc ly hôn trong thời hạn là 4 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Và kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn là từ 1 – 2 tháng.

Trên đây là những tư vấn từ phía Công ty chúng tôi cho yêu cầu của Quý khách hàng. Nếu còn vấn đề nào chưa rõ, vui lòng liên hệ trực tiếp qua Tổng đài 1900.6162 để được tư vấn, hỗ trợ.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT -CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.