Tôi nuôi một bé gái, bé trai bố cháu nuôi.
Vấn đề tôi muốn hỏi ở đây là:
Thứ nhất: 55m2 đất tôi biết tính như thế nào ra tiền để ghi trong đơn, nhà 2 tầng xây lên thì tôi biết là năm 2011 chúng tôi xây hết 250 triệu.
Thứ 2: Tòa thu bao nhiêu % phần số tiền tài sản tôi ghi trong đơn (chúng tôi không thống nhất được với nhau nên tôi phải đơn phương ly hôn).
Thứ 3: tôi muốn đòi một nửa tài sản có được không ( tức 125 triệu + một nửa tiển đất 55m2 đất)
Thứ 4. Tôi gửi đơn, tôi là người phải chịu mức nộp % tài sản ghi trong đơn cho tòa hay cả hai phải chịu. Tiền nộp cho tòa là lúc nào, nộp trươc skhi xét xủ hay sau khi xét xử?
thứ 5
Nếu hai cháu cứ đòi ở với bố thì tôi có được nuôi một cháu không?
Mong luật sư tư vấn giúp. Tôi đang rất cần được tư vấn sớm.
Tôi cảm ơn nhiều lắm.

Người hỏi: LT Thủy

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luậtcủa Công ty Luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

Chào bạn, cám ơn bạn đã gửi những thắc mắc cho chúng tôi, dựa vào những dữ liệu bạn cung cấp, tôi có thể trả lời bạn như sau:

Theo điều Điều 33, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng

Quyền sử dụng. đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.

Căn nhà được xây trong thời kỳ hôn nhân do đó là tài sản chung vợ chung do đó có thể chia đôi theo nguyên tắc quy định tại khoản 2 điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khi hai vợ chồng không thể thỏa thuận được vấn đề phân chia tài sản thì:

Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Trong trường hợp này hai vợ chồng bạn không thể thỏa thuận được việc phân chia tài sản để ly hôn thì Tòa án sẽ phân chia tài sản chung (cụ thể ở đây là căn nhà) theo nguyên tắc trên. Việc định giá tài sản chung sẽ do hai bên thỏa thuận với nhau. Nếu hai bên không thể thỏa thuận được thì Tòa án sẽ định giá căn nhà theo quy định của Luật đất đai.

Theo khoản 1, điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: "Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn" .

Về thủ tục ly hôn:

Chị đơn phương xin ly hôn thì Toà án nhân dân cấp quận, huyện nơi bị đơn đang cư trú (nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của chồng chị) có thẩm quyền giải quyết (Theo quy định tại điều 25, 27 và 33 Bộ luật tố tụng dân sự 2004) và theo quy định tại Điều 8 và điều 10 nghị quyết 02/2000 NQ - HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (nghị quyết này đến nay vẫn còn hiệu lực)

Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

1. Chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của vợ và chồng

2. Đăng ký kết hôn bản chính

3. Giấy khai sinh của các con (2 con)

4. Giấy tờ về tài sản nếu có yêu cầu chia (cụ thể là giấy tờ về căn nhà).

Về chi phí:

- Bạn phải nộp 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí.

- Nếu có tranh chấp về tài sản mà vợ chồng không thống nhất được giá trị tài sản và cách phân chia thì phải nộp:

+ Lệ phí định giá tài sản (khoản này do Tòa án tiên lượng để tạm thu, sau khi định giá xong mới quyết định mức thực thu).

+ Án phí chia tài sản tương ứng với 5% giá trị tài sản mà mỗi người được chia.

*Nếu các bạn tự thỏa thuận chia tài sản mà không yêu cầu Tòa án giải quyết thi không phải chịu án phí chia tài sản.

 *Nếu các bạn có tranh chấp tài sản, nhưng sau khi Tòa án hòa giải, các bạn thỏa thuận được thì chỉ phải chịu mức án phí tương ứng với 2,5% giá trị tài sản mà mỗ người được nhận.

Theo quy định trên thì bạn phải nộp 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí và các khoản án phí về định giá tài sản cũng như án phí chia tài sản như nguyên tắc trên.

Về vấn để con cái trong ly hôn:

Về nguyên tắc, việc ai là người nuôi con sau khi ly hôn có thể được các bên đương sự (vợ, chồng) tự thỏa thuận với nhau và được tòa án ghi nhận trong bản án. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi chưa thành niên (dưới 18 tuổi) hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng (mức cấp dưỡng tùy theo điều kiện kinh tế hoặc theo thỏa thuận) để người kia chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.

Tuy nhiên, nếu bạn (vợ, chồng) không thể thoả thuận được với nhau thì toà án sẽ có quyền phán xét, giao quyền nuôi con cho một bên vợ hoặc chồng. Quyết định của tòa án căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt và hướng tới tương lai tốt đẹp của con. Các quyền lợi đó có thể là: điều kiện học tập, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, đi lại…

Chính vì vậy, có thể thấy người nào có điều kiện tốt hơn về tài sản, thu nhập.

Ở các nước ta, với quy định nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên, đủ để nhận biết việc ở với bố hay mẹ là thuận tiện hơn thì toà án sẽ hỏi ý kiến, nguyện vọng của con.

Tuy vậy, trên thực tế không phải bậc cha mẹ nào cũng muốn nuôi con khi ly hôn. Vậy nên phải xem xét việc chồng bạn có muốn nuôi hai cháu không rồi Tòa án sẽ giải quyết, nếu đủ điều kiện thì sẽ tiến hành theo nguyện vọng của hai cháu.

Một điều nữa cũng cần lưu ý là tuy giành được quyền nuôi con khi ly hôn, nhưng trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc con, nếu người cha người mẹ không hoàn thành trách nhiệm của mình thì người kia có quyền nộp đơn yêu cầu thay đổi người nuôi con.

Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam qui định trong tất cả các trường hợp, sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom con, có thể theo định kỳ hoặc thường xuyên theo thoả thuận của hai bên và không ai được cản trở quyền này. Nếu người không nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu toà án hạn chế quyền thăm nom con của người kia.

Tóm lại, hai bạn nên căn cứ vào quyền lợi và tương lai của chính người con.

Thân Trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê.