1. Hỏi đáp về phân chia tài sản sau khi ly hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi có 2 mảnh đất tôi nhờ anh trai tôi mua hộ từ lúc chưa lấy chồng và mang tên anh trai tôi, và sau khi lấy chồng thì tôi làm sổ dodrr mang tên anh trai tôi và tôi. Vậy sau khi ly hôn thì chồng tôi có được một phần trong số tài sản riêng của tôi không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: V.T.L

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Về 2 mảnh đất mà anh trai bạn mua hộ bạn là tài sản bạn có trước thời kì hôn nhân. Mặt khác tài sản chỉ đứng tên bạn và anh trai bạn. Vì vậy đây được coi là tài sản riêng của bạn theo khoản 1 điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

Theo đó qui định tại điều 44 Luật hôn nhân và gia đình tài sản riêng sau khi ly hôn sẽ được chiếm hữu, sử dụng, định đoạt như sau:

Điều 44. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.

Như vậy trong trường hợp này chồng bạn sẽ không được hưởng quyền lợi gì đối với 2 mảnh đất đứng tên anh trai bạn và bạn mà bạn có trước hôn nhân. Trừ trường hợp bạn nhập số tài sản đó vào khối tài sản chung của vợ chồng bạn thì lúc này 2 mảnh đất bạn có sẽ được coi là tài sản chung giữa 2 bạn và được chia theo nguyên tắc chia tài sản chung được pháp luật qui định.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

2. Căn cứ pháp lý phân chia tài sản khi ly hôn ?

Luật Minh Khuê tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành về những quy đinh pháp lý như ly hôn, phân chia tài sản chung/tài sản riêng và quyền nuôi con

Ly hôn đơn phương lý do: Do hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và

+ Có hai con chung bé lớn 5 tuổi, bé thứ hai được hơn 2 tuổi;

+ Tài sản có nhà đất mua trong quá trình hôn nhân;

+ Hai vợ chồng không thỏa thuận được về việc phân chia tài sản vợ bị trầm cảm có bị hạn chế về việc nuôi con và tài sản không?

Hỏi:

1. Có ly hôn được hay không?

2. Hồ sơ thủ cần chuẩn bị để giải quyết vụ ly hôn?

3/ Có được quyền nuôi con hay không? và những giấy tờ tài liệu để chứng minh có đủ điều kiện để nuôi con ?

Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Do không có điều kiện để kiểm tra, đối chiếu, xác minh thông tin Anh cung cấp nên Chúng tôi giả định rằng các thông tin Anh cung cấp là đúng sự thật, dựa trên các văn bản, tài liệu phù hợp với quy định của pháp luật.

Căn cứ trên các thông tin, tài liệu mà khách hàng cung cấp và trên cơ sở các văn bản pháp luật hiện hành, chúng tôi xin tư vấn như sau:

1. Có đủ căn cứ để ly hôn được không?

Theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Trong trường hợp của anh, nếu anh chị có chứng cứ, tài liệu chứng minh quan hệ vợ chồng thuộc quy định tại Điều 56 của nói trên thì tòa án sẽ có căn cứ xem xét cho hai vợ chồng ly hôn.

2. Thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn được quy định như sau:

Điều 28. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn…

Điều 35. Thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này"

Điều 39. Thẩm quyền của Toàn án theo lãnh thổ

"1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;…

Như vậy thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn đơn phương là Toà án nhân dân cấp huyện/quận nơi bị đơn đang cư trú trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.

3. Hồ sơ, giấy tờ cần chuẩn bị ?

a/ Giấy đăng ký kết hôn bản gốc (trường hợp không còn bản gốc thì bổ sung trích lục đkkh);

b/ Bản sao công chứng CMND và Sổ hộ khẩu của hai vợ chồng;

c/ Giấy khai sinh bản sao công chứng/trích lục khai sinh của con;

d/ Các giấy tờ tài liệu chứng minh tài sản nếu có tranh chấp

4. Về con cái nếu hai vợ chồng không thỏa thuận được thì sẽ tiến hành phân chia theo quy định của pháp luật. cụ thể:

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như thông tin khách hàng cung cấp, hiện nay vợ chồng anh chị có hai bé: Bé lớn được 5 tuổi, bé thứ hai được hơn 2 tuổi vì vậy nếu anh chị không thỏa thuận được việc nuôi con, thì bé thứ 2 sẽ do vợ anh, còn bé lớn sẽ do thảo thuận của hai vợ chồng, trường hợp hai vợ chồng không thỏa thuận được thì tòa án sẽ căn cứ vào điều kiện thực tế cảu hai vợ chồng để quyết định quyền nuôi con. Trong trường hợp nếu có bị bệnh trầm cảm thì có thể làm căn cứ để tòa xem xét lại việc giao bé thứ 2 cho vợ anh hay không, còn bé lớn thì tòa sẽ hỏi ý kiến bé và xem xét nguyện vọng của hai anh, chị đưa ra quyết định cuối cùng;

5. Tài sản sẽ giải quyết như thế nào?

Căn cứ theo quy định của luật hôn nhân gia đình Nguyên tắc giải quyết tài sản của Vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Như vậy, việc phân chia tài sản sẽ do hai vợ chồng thỏa thuận. Trong trường hợp hai vợ chồng không thảo thuận được, thì theo yêu cầu của hai vợ chồng tòa án sẽ căn cứ vào những quy định của pháp luật để tiến hành phân chia./.

Trân trọng cảm ơn!

3. Tư vấn về phân chia tài sản chung là nhà đất khi ly hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê. Hiện tại tôi có một vấn đề về kính nhờ luật minh khuê hỗ trợ giúp tôi. Ba mẹ tôi ly hôn khi tôi tròn một tuổi. Sau đó 6 năm bà kết hôn với người ba dượng hiện tại. Hai người đã ly thân 10 năm nay nhưng vẫn sống chung nhà.

Bây giờ hai người muốn ly hôn, tài sản chung là căn nhà đang ở đứng tên hai người. Ba dượng đưa ra thỏa thuận là mẹ tôi đưa ông 300 triệu đồng thì ký giấy ly hôn và mẹ tôi được quyền giữ căn nhà. Trong trường hợp chúng tôi không đồng ý thỏa thuận đó và đưa ra tòa xét xử, mong luật sư tư vấn cho tôi một số vấn đề như sau:

1. Phần giá trị đất hiện tại theo giá thị trường là 600 triệu, vậy căn cứ định giá trị quyền sử dụng đất sẽ được xét theo giá quy định của nhà nước tại khu vực đó hay là giá buôn bán trên thị trường ?

2. Căn nhà đang ở chỉ có giá trị quyền sử dụng đất, không có tài sản gắn liền trên đất, vì nhà tôi là nhà trệt, theo quy định tại khu vực đang sinh sống thì 1 trệt 1 lầu mới tính là tài sản gắn liền trên đất. Như vậy khi ra tòa thì tòa phân xử giá trị để chia tài sản có tính đến phần giá trị nhà này hay không ? Nếu có thì dựa vào căn cứ nào để định giá nhà để phân chia ạ ?

3. Vấn đề thứ 3 là khi chia tài sản tòa có xét đến yếu tố đóng góp vào phần tài sản không ? Vì mấy chục năm nay chỉ có một mình mẹ tôi đi làm lo cho cả gia đình. Ba dượng không đi làm, bao nhiêu tiền bạc tiết kiệm hay dư từ việc bán nhà cũ mua nhà mới đều dồn cho ông làm ăn nhưng toàn thua lỗ.

4. Vấn đề thứ 4 là vào năm 2008 khi chúng tôi xây nhà, nhà chỉ đứng tên mẹ và ba dượng tôi, nhưng khi đó tôi đã 26 tuổi, có tên trong hộ khẩu vậy tôi có được hưởng phần nào giá trị trong tài sản chung hay không ? Hay chỉ có hai người đứng tên trên sổ đỏ được xem là chủ nhà đất ?

Mong nhận được sự tư vấn của Luật sư, tôi xin trân trọng cảm ơn !

Tư vấn về phân chia tài sản chung là nhà đất khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật Hôn nhân về chia tài sản chung, gọi:1900.6162

Luật sư trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty luật Minh khuê với nội dung bạn yêu cầu chúng tôi xin dưa ra câu trả lời như sau:

Công ty luật Minh Khuê, hướng dẫn chia tài sản là bất động sản khi ly hôn. Căn cứ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình có quy định như sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như vậy, tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung;

Quyền sở hữu chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng;

Việc chia tài sản chung của hai vợ chồng dựa trên nguyên tắc quy định trong luật hôn nhân và gia đình cụ thể

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Nới những nội dung khách hàng yêu cầu, căn cứ vào quy định pháp lý chúng tôi xin được trả lời như sau:

1. Việc định giá tài sản sẽ căn cứ vào việc thỏa thuận của hai bên vợ chồng, nếu hai vợ chồng không thỏa thuận được việc phân chia, sẽ yêu cầu tòa án phân chia theo quy định. Việc định giá tài sản sẽ được thành lập hội đồng định giá và được xác định theo giá thị trường;

2. Tài sản chung của hai vợ chồng là bao gồm bất động sản, và tài sản phát sinh trong quá trình hôn nhân. Nhà xây dựng trong thời kỳ hôn nhân vẫn được định giá để phân chia tài sản nếu có yêu cầu phân chia

3. Việc phân chia tài sản chung dựa theo nguyên tắc là tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập

4. Nhà chỉ đứng tên dượng và mẹ của bạn nên nguyên tắc chung là tài sản của hai vợ chồng của mẹ và dượng bạn, nên bạn không được chia trừ trường hợp bạn có đóng góp công sức và tài sản để tạo dựng lên khối tài sản đó

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

4. Phân chia tài sản chung khi ly hôn như thế nào ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê. Sắp tới gia đình của một người bạn của tôi sắp ra tòa để ký đơn ly hôn, nhưng tôi có một số câu hỏi cần được sự tư vấn của các vị luật sư:

1. Chúng tôi có xây dựng 1 căn nhà trên phần đất của Ông ngoại bán nhưng chưa thanh toán tiền đất, trị giá căn nhà xây là 230,000.000 vnd. Cho đến nay là 3 năm. Vợ chồng có được 1 đứa con. Bây giờ vợ chồng ra tòa ly hôn, ông ngoại thu hồi lại đất. Và bên vợ yêu cầu chia đôi trị giá căn nhà 230.000.000vnd là đúng?

2. Người mẹ chuyển giao đứa con cho người cha nuôi dưỡng mà không yêu cầu cấp dưỡng từ người mẹ, vậy người con có được chia tài sản trong căn nhà này không?

3. Chúng tôi thấy căn nhà đã xuống cấp nên trị giá căn nhà cần được thẩm định lại giá, vậy cho tôi hỏi trong trường hợp này giá trị căn nhà khi thẩm định xong sẽ cao hơn hay thấp hơn so với giá trị ban đầu do bên vợ yêu cầu. Và chi phí cho việc yêu cầu thẩm định là bao nhiêu.

4. Nếu 2 vợ chồng không thống nhất về trị giá căn nhà để phân chia tài sản thì trong trường hợp này sẽ do quí tòa thẩm định là đúng. ð khi phân chia tài sản xong, bên vợ yêu cầu thanh toán 1 lần là đúng? Nếu có thể chúng tôi được yêu cầu thanh toán lại từng phần cho bên vợ không?

Rất mong nhận được sự phản hồi của Quý luật sư.

Phân chia tài sản chung khi ly hôn

Trả lời:

1. Về vấn đề chia tài sản là căn nhà:

Theo điều 33 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Theo điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Như vậy, theo điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, và căn nhà đó là tài sản được tạo ra từ tài sản chung của vợ chồng. Theo điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản này sẽ được phân chia do thỏa thuận của vợ chồng, nếu không thỏa thuận được hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì tòa án sẽ chia theo nguyên tắc chia đôi nhưng có xét đến yếu tố hoàn cảnh, công sức đóng góp... của mỗi bên.

2. Về việc chia tài sản cho con:

Khi ly hôn thì quan hệ vợ chồng sẽ chấm dứt theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án (khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Bên cạnh đó, ly hôn còn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ và con sau ly hôn cũng như quyền tài sản của hai vợ chồng. Pháp Luật Hôn nhân và gia đình không quy định cha mẹ khi ly hôn phải chia tài sản cho con cái. Việc chia tài sản hay không chia tài sản cho con hoàn toàn thuộc quyền quyết định của cha, mẹ. Vì vậy, để chia tài sản cho con thì cha, mẹ có thể thỏa thuận về việc chia tài sản cho con.

Nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn của cha, mẹ tại các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Theo đó, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Về vấn đề thẩm định giá tài sản:

Theo quy định tại khoản 1 điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản:

"1. Các bên có quyền tự thỏa thuận về việc xác định giá tài sản, lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản.

Tòa án ra quyết định định giá tài sản đang tranh chấp trong các trường hợp sau đây:

a) Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự;

b) Các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá theo mức giá thấp nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước."

Theo quy định tại điều 2 Thông tư liên tịch 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC:

"Điều 2. Nguyên tắc định giá tài sản

1. Các bên đương sự tự thỏa thuận về việc xác định giá tài sản, lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để xác định giá trị tài sản. Nhà nước tôn trọng sự thỏa thuận của các bên đương sự về việc xác định giá tài sản, lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên thoả thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá theo mức giá thấp nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước.

2. Việc định giá tài sản được thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật, thực trạng của tài sản; phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản tại thời điểm định giá.

3. Bảo đảm trung thực, khách quan, công khai, đúng quy định của pháp luật.

4. Giá tài sản được tính bằng đồng Việt Nam.

5. Trường hợp tài sản định giá không còn thì việc xác định giá căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc hoặc tham khảo giá của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật để xác định. Tài sản cùng loại, tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật được xác định theo quy định của pháp luật."

Như vậy, các bên có thể tự thỏa thuận về việc định giá tài sản, có thể bằng việc tự đưa ra giá, khi không tự thỏa thuận được thì có thể lựa chọn tổ chức thẩm định giá hoặc tòa án thực hiện thẩm định giá. Việc xác định giá tài sản dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật, thực trạng của tài sản, phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản tại thời điểm định giá nên giá tài sản khi đã được định giá có thể sẽ khác so với giá mà người vợ yêu cầu.

Khi tài sản đã được định giá thì giá trị của tài sản sẽ là căn cứ để chia tài sản cho mỗi bên vợ, chồng. Việc chia tài sản như đã nêu ở trên có thể do thỏa thuận của vợ chồng cho nên có thể thanh toán lại từng phần cho bên vợ.

- Về chi phí thẩm định giá:

+ Nếu việc định giá do tổ chức thực hiện:

Theo điều 5, điều 6 Thông tư liên tịch 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC thủ tục định giá tài sản do tổ chức thực hiện như sau:

"Điều 5. Yêu cầu tổ chức thẩm định giá tài sản

1. Trường hợp các bên đương sự cùng yêu cầu Tòa án yêu cầu tổ chức thẩm định giá định giá tài sản thì phải nêu cụ thể tên tổ chức thẩm định giá đó. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của đương sự, Toà án gửi văn bản yêu cầu tổ chức thẩm định giá đó tiến hành thẩm định giá tài sản.

2. Trường hợp có đương sự yêu cầu Tòa án yêu cầu một tổ chức thẩm định giá tài sản tiến hành thẩm định giá, thì Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự khác trong vụ án dân sự biết. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản thông báo của Toà án mà đương sự không có ý kiến hoặc có ý kiến đồng ý yêu cầu tổ chức thẩm định giá đó, thì Toà án gửi văn bản yêu cầu tổ chức thẩm định giá mà các đương sự đã yêu cầu tiến hành thẩm định giá tài sản. Trong trường hợp có đương sự không đồng ý về tổ chức thẩm định giá, thì các đương sự có quyền yêu cầu Toà án định giá tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Thông tư liên tịch này.

3. Trường hợp đương sự yêu cầu Tòa án yêu cầu tổ chức thẩm định giá tiến hành định giá tài sản đang tranh chấp theo khoản 1 và khoản 2 Điều này phải được thực hiện bằng văn bản, có chữ ký của người yêu cầu và giấy tờ, tài liệu chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá theo quy định của pháp luật của tổ chức thẩm định giá đó. Đơn yêu cầu thực hiện theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này."

"Điều 6. Trình tự thực hiện yêu cầu tổ chức thẩm định giá tài sản tiến hành thẩm định giá tài sản theo yêu cầu của đương sự

1. Sau khi có đủ điều kiện ra văn bản yêu cầu tổ chức thẩm định giá tài sản tiến hành định giá tài sản theo quy định tại Điều 5 của Thông tư liên tịch này thì Toà án ban hành văn bản yêu cầu tổ chức thẩm định giá tiến hành thẩm định giá tài sản đang tranh chấp.

2. Ngay sau khi nhận được văn bản trả lời về việc đồng ý tiến hành định giá tài sản của tổ chức thẩm định giá, Tòa án phải thông báo cho các bên đương sự để tiến hành thủ tục theo yêu cầu của tổ chức thẩm định giá tài sản theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp tổ chức thẩm định giá từ chối thẩm định giá tài sản thì Tòa án thông báo cho đương sự biết để lựa chọn tổ chức thẩm định giá khác.

3. Việc tiến hành thủ tục thẩm định giá của tổ chức thẩm định giá được tiến hành theo quy định về pháp luật thẩm định giá tài sản.

4. Ngay sau khi có kết quả thẩm định giá, tổ chức thẩm định giá tài sản phải gửi kết quả thẩm định giá cho Toà án. Tòa án thông báo kết quả định giá cho các bên đương sự có liên quan đến việc định giá tài sản.

5. Kết quả thẩm định giá được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định giá được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật."

Về chi phí thẩm định giá trong trường hợp này sẽ do tổ chức thẩm định giá quy định. Theo điều 11 Nghị định số 89/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật giá về thẩm định giá:

"Điều 11. Giá dịch vụ thẩm định giá

1. Giá dịch vụ thẩm định giá thực hiện theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp thẩm định giá với khách hàng thẩm định giá theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 Điều này và được ghi trong hợp đồng thẩm định giá; trường hợp đấu thầu dịch vụ thẩm định giá thì thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu đối với gói thầu dịch vụ tư vấn.

2. Các căn cứ xác định giá dịch vụ thẩm định giá:

a) Nội dung, khối lượng, tính chất công việc và thời gian thực hiện thẩm định giá;

b) Chi phí kinh doanh thực tế hợp lý tương ứng với chất lượng dịch vụ gồm: Chi phí tiền lương, chi phí phát sinh trong quá trình khảo sát, thu thập, phân tích, xử lý thông tin; chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và các chi phí khác theo quy định của pháp luật;

c) Chi phí mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hoặc chi phí trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp;

d) Lợi nhuận dự kiến (nếu có) đảm bảo giá dịch vụ thẩm định giá phù hợp mặt bằng giá dịch vụ thẩm định giá tương tự trên thị trường;

đ) Các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

3. Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp thẩm định giá ban hành và thực hiện niêm yết biểu giá dịch vụ thẩm định giá của doanh nghiệp mình theo quy định tại Khoản 6 Điều 4, Khoản 5 Điều 12 của Luật giá bằng hình thức mức giá dịch vụ trọn gói, theo tỷ lệ phần trăm (%) của giá trị tài sản hoặc giá trị dự án cần thẩm định giá và hình thức khác do doanh nghiệp quyết định phù hợp với các quy định của pháp luật."

+ Nếu việc định giá tài sản do tòa án thực hiện: chi phí định giá tài sản được xác định theo các điều 35, 38, 39, 40, 42 Pháp lệnh 02/2012/UBTVQH13 như sau:

"Điều 35. Chi phí định giá tài sản

1. Căn cứ tính chất của đối tượng định giá, chi phí định giá tài sản bao gồm một hoặc một số chi phí sau đây:

a) Chi phí tiền lương và các khoản thù lao cho người thực hiện định giá;

b) Chi phí thu thập, phân tích thông tin về đối tượng cần định giá;

c) Chi phí vật tư tiêu hao;

d) Chi phí sử dụng dịch vụ cần thiết khác;

đ) Các chi phí khác theo quy định của pháp luật.

2. Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này."

"Điều 38. Thủ tục nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản

1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được thành lập hoặc nhận được quyết định yêu cầu định giá của Tòa án, Hội đồng định giá, tổ chức định giá tài sản phải thông báo cho Tòa án và người yêu cầu định giá tài sản biết để đến Tòa án nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản; thông báo phải nêu rõ số tiền, thời hạn và phương thức nộp tiền.

2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Hội đồng định giá, tổ chức định giá tài sản, Tòa án có trách nhiệm thông báo cho người yêu cầu định giá biết để đến Tòa án nộp tiền tạm ứng chi phí định giá.

3. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều này, người yêu cầu định giá tài sản phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá, trừ trường hợp các bên đương sự có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày.

4. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày thu tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản, Tòa án phải chuyển số tiền đó cho Hội đồng định giá, tổ chức định giá tài sản."

"Điều 39. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản

1. Người yêu cầu định giá tài sản phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản, trừ trường hợp các bên đương sự có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp các bên đương sự không thống nhất được về giá mà yêu cầu Tòa án định giá hoặc Tòa án quyết định định giá theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự hoặc trong trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật Tố tụng hành chính thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa số tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản. Trường hợp trong vụ việc có nhiều đương sự thì các bên đương sự cùng phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản theo mức do Tòa án quyết định.

3. Hội đồng định giá, tổ chức định giá tài sản có quyền từ chối thực hiện việc định giá tài sản khi nhận được thông báo của Tòa án về việc người yêu cầu định giá không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản."

"Điều 40. Thanh toán chi phí định giá tài sản

1. Sau khi có kết quả định giá, Hội đồng định giá, tổ chức định giá tài sản thông báo cho Tòa án, người yêu cầu định giá về chi phí định giá tài sản.

2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án có trách nhiệm thông báo cho người yêu cầu định giá biết để đến Tòa án nộp chi phí định giá tài sản. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, người yêu cầu định giá tài sản phải nộp chi phí. Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày.

Trường hợp số tiền tạm ứng chi phí định giá đã nộp chưa đủ chi phí thì phải nộp thêm phần tiền còn thiếu đó; nếu số tiền tạm ứng đã nộp vượt quá chi phí định giá thì được trả lại phần tiền chênh lệch.

3. Người đã thanh toán chi phí định giá tài sản mà không có nghĩa vụ nộp theo quy định tại Điều 42 của Pháp lệnh này được hoàn trả chi phí định giá đã nộp."

"Điều 42. Nghĩa vụ nộp chi phí định giá tài sản

Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ nộp chi phí định giá tài sản được xác định như sau:

1. Người yêu cầu định giá tài sản phải nộp chi phí định giá nếu kết quả định giá chứng minh yêu cầu định giá của người đó là không có căn cứ;

2. Người không chấp nhận yêu cầu định giá tài sản của người có yêu cầu phải nộp chi phí định giá, nếu kết quả định giá chứng minh yêu cầu của người yêu cầu định giá là có căn cứ;

3. Trường hợp các bên không thống nhất được về giá tài sản mà cùng có yêu cầu Tòa án quyết định việc định giá thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa chi phí định giá; trường hợp trong vụ việc có nhiều đương sự thì các bên đương sự cùng phải nộp chi phí định giá theo mức do Tòa án quyết định;

4. Trường hợp Tòa án ra quyết định định giá tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự hoặc trong trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật tố tụng hành chính thì nghĩa vụ nộp chi phí định giá được xác định như sau:

a) Mỗi bên đương sự phải nộp một nửa chi phí định giá; nếu kết quả định giá chứng minh quyết định định giá của Tòa án là có căn cứ;

b) Tòa án trả chi phí định giá, nếu kết quả định giá chứng minh quyết định định giá của Tòa án là không có căn cứ;

5. Trường hợp định giá để chia tài sản chung, chia di sản thừa kế thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí định giá theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia;

6. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí định giá, chi phí định giá tài sản mà không phải nộp chi phí định giá thì người phải nộp chi phí định giá theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản, chi phí định giá tài sản số tiền mà họ đã nộp;

7. Tòa án căn cứ vào các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này quyết định nghĩa vụ nộp chi phí định giá tài sản, hoàn trả chi phí định giá tài sản của các bên đương sự trong bản án, quyết định."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

5. Nguyên tắc phân chia tài sản riêng khi ly hôn ?

Thưa luật sư, Cho em hỏi nếu người vợ ly hôn đơn phương thì khi ra tòa tài sản mang tên vợ có phải chia đôi hay không ? Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật Hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Nguyên tắc phân chia tài sản khi ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

" Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

Như vậy, nếu có căn cứ chứng minh là tài sản riêng khi ly hôn thì sẽ thuộc về chủ sở hữu, không chia đôi.

>> Bài viết tham khảo thêm: Mẫu đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự

6. Tư vấn về phân chia tài sản sau khi ly hôn?

Thưa luật sư, Tôi có việc muốn xin tư vấn của quý công ty. Tháng 11 năm 2010 tôi có kết hôn với vợ tôi. Tôi có 2 con trai riêng và vợ có 1 con gái riêng. Tất cả sống chung trong ngôi nhà riêng của tôi. Các cháu đều đã lớn và đi học xa nhà.

Trong thời gian sống với nhau chúng tôi có thỏa thuận miệng với nhau về việc để riêng phần kinh tế (không có giấy tờ,chỉ là thỏa thuận miệng). Con tôi tôi nuôi,con vợ tôi vợ tôi nuôi. Chúng tôi chỉ chung nhau phần ăn uống còn ai cũng có việc làm riêng và thu nhập để riêng. Trong thời gian sống chung,tôi có mua sắm và sửa sang lại nhà cửa bằng tiền của mình,không có sự trợ giúp của vợ. Đến tháng 7 năm 2015 chúng tôi ly hôn. Vì riêng rẽ tài sản nên cả 2 không có sự tranh chấp về tài sản trước tòa khi ly hôn. Thủ tục ly hôn hoàn thành vào 28.7.2015 mà không có sự vướng mắc tranh chấp nào.

Đến nay,tôi nhận đc giấy từ tòa án về việc vợ cũ đòi phân chia tài sản chung khi sống với tôi. Đó là phần tài sản tôi mua sắm và phần ngôi nhà tôi sửa khi đang ở với nhau. Vì không có giấy tờ chứng minh việc sửa sang và mua sắm bằng tiền của mình nên tôi rất lo lắng ?

Xin quý công ty giải đáp giúp đỡ tôi.Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: S

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến gọi: 1900 6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại điều 47, 48 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 47. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng

Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Điều 48. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

1. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm:

a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;

b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;

c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;

d) Nội dung khác có liên quan.

2. Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định."

Do vậy, trong trường hợp này anh chị khi thỏa thuận về chế độ tài sản giữa hai vợ chồng thì trước khi kết hôn, việc thỏa thuận này phải được lập thành văn bản và phải có công chứng, chứng thực. Và thỏa thuận này có thể bị tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại khoản 1 điều 50 Luật HN&GĐ năm 2014 do vi phạm quy định về hình thức của thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng:

"Điều 50. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;

b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;"

Theo khoản 2 điều 122 Bộ luật dân sự 2005 quy định về hình thức của giao dịch dân sự:

"2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định."

"Điều 7. Áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định

Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình."

Do đó, trong trường hợp này, việc mua mua sắm và phần ngôi nhà anh sửa khi hai vợ chồng chung sống với nhau được coi là tài sản chung và sẽ áp dụng theo chế độ đối với tài sản chung theo điều 33 Luật HN&GĐ:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 59 Luật HN&GĐ về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

"2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch."

Như vậy, theo quy định tại khoản 3 điều 33 Luật HN&GĐ, nếu anh có căn cứ chứng minh việc sửa sang và mua sắm bằng tiền của mình thì anh có thể không phải chia giá trị số tài sản đó. Trong trường hợp này anh không chứng minh được việc sửa sang và mua sắm bằng tiền của mình thì số tiền đó được coi là tài sản chung và phải phân chia theo như khoản 2, 3 điều 59 Luật HN&GĐ.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162 . Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê