Khi bán đất xong, chồng tôi lại chuyển toàn bộ số tiền bán đất đó vào tài khoản riêng của tôi, sau khi mua nhà mới rút ra. Vậy khi ly hôn tôi có được chia tài sản đó không? Tôi có đủ cơ sở để chứng minh số tiền là của minh không? Chồng tôi bảo có đủ cơ sở để chứng minh căn nhà mua vào năm 2015 là của riêng chồng tôi tạo lập để không chia tài sản cho tôi. Từ năm 2012->2015 tôi không có thu nhập vì ở nhà phải sinh 2 đứa con và nuôi con.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hôn nhân công ty Luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau

I. Cơ sở pháp lý

Luật Hôn nhân và gia đình 2014

II. Nội dung phân tích

Luật Hôn nhân gia đình quy định:

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Điều 46. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung

1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.

3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp, chồng của bạn có tài sản là 3 miếng đất từ trước thời kì hôn nhân và căn nhà 3,3 tỉ là tài sản được hình thành từ việ sử dụng tiền bán 3 miếng đất đó. Do đó, căn nhà chính là tài sản riêng của chồng bạn. Căn nhà này chỉ được tính là tài sản chung để phân chia khi ly hôn trong trường hợp được nhập làm tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 46. Theo đó, vợ chồng bạn phải có thỏa thuận về việc gộp chung tài sản và đối với nhà ở là loại tài sản phải đăng kí quyền sử dụng, do vậy để xác định có phải là tài sản chung hay không thì trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở phải có tên của cả hai vợ chồng. 

Theo như thông tin mà bạn cung cấp, sau khi bán đất chồng bạn có gửi tạm số tiền trên vào tài khoản riêng của bạn. Điều này không được coi là căn cứ chứng minh việc bạn được quyền sở hữu đối với số tiền đó, cũng như quyền tài sản đối với căn nhà.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 59 về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn:

"4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư hôn nhân và gia đình.