1. Hướng dẫn cách viết đơn ly hôn và thủ tục phân chia tài sản, quyền nuôi con khi ly hôn ?

Luật Minh Khuê tư vấn và hướng dẫn cách viết đơn ly hôn và thủ tục phân chia tài sản, quyền nuôi con khi ly hôn:

Luật sư: Lê Minh Trường - Tư vấn ly hôn và quyền nuôi con trên CAFE Sáng với VTV3

Trả lời:

Vấn đề 1: Thủ tục ly hôn

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ ly hôn theo quy định tại Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ Luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Tố tụng dân sự

Hồ sơ cần có bao gồm:

- Mẫu đơn ly hôn đơn phương/Mẫu đơn xin công nhận thuận tình ly hôn;

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

- CMND và sổ hộ khẩu của 2 vợ chồng (bản sao có chứng thực);

- Giấy khai sinh của con (bản sao có chứng thực);

- Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản (bản sao có chứng thực);

Bước 2: Nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp quận/huyện theo quy định tại điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

- Nếu ly hôn đơn phương: Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc để giải quyết.

- Nếu ly hôn thuận tình: Tòa án nhân dân cấp huyện nơi một trong hai bên vợ chồng cư trú.

Bước 3: Án phí & lệ phí ly hôn

- Nếu ly hôn đơn phương: án phí là 300.000 VNĐ (không có tranh chấp tài sản), có tranh chấp tài sản (theo quy định cũ dựa trên Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 thì mức phí là 200.000 ngàn đồng);

- Hiện nay, Nếu ly hôn thuận tình: lệ phí là 300.000 VNĐ.

Vấn đề 2: Quyền nuôi con sau ly hôn

Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.".

Vấn đề 3: Xử lý nợ/nghĩa vụ chung về tài sản

Điều 37 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định nghĩa vụ chung về tài sản bao gồm:

"Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.".

Điều 45 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định nghĩa vụ riêng về tài sản bao gồm:

"Điều 45. Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng

Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;

2. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.".

Vấn đề 4: Nguyên tắc phân chia tài sản khi ly hôn:

Điều 59 Luật hôn nhân gia đình quy định:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.".

Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản cũng như xử lý nợ có thể công chứng hoặc không công chứng theo nhu cầu của các bên vì pháp luật không có quy định bắt buộc. Tuy nhiên, khuyến khích các bên tiến hành việc công chứng. Trân trọng./.

>> Tham khảo thêm nội dung: Ly hôn khi không còn tình cảm với chồng thì quyền nuôi con và chia tài sản khi ly hôn thực hiện như thế nào ?

2. Ly hôn giành quyền nuôi con và chia tài sản ?

Kính gửi luật sư, tôi muốn giải quyết ly hôn với một số nội dung sau mong luật sư tư vấn giúp. Chúng tôi kết hôn với nhau từ năm 2012 đến nay hơn 5 năm rồi, và chúng tôi cãi vã nhau cả mấy chục lần vì không có tiếng nói chung, thậm chí đánh đập và chửi vợ thậm tệ. Chúng tôi có một con chung sinh năm 2013 được 4 tuổi.

Và hiện nay nó sống cùng ông bà ngoại được 4 năm, còn vợ chồng tôi có tài sản chung là chiếc xe máy 19 triệu và lô đất mua của nhà nước 205 triệu. Lúc mua tài sản này chồng tôi đi làm xa vắng mặt nên tôi đứng tên một mình. Bây giờ chồng tôi làm việc cho công ty bên lào, tiền lương anh ấy làm được anh không đưa cho vợ con. Còn riêng tôi cũng đi làm chung công ty với anh ấy cũng có thu nhập, tiền tôi kiếm được đủ để cho mẹ con tôi trang trải. Vậy xin hỏi luật sư là nếu tôi nộp đơn xin giải quyết đơn phương thì mức án phí bao nhiêu, tôi có được quyền nuôi con không nếu chồng tôi tranh chấp, và lô đất với xe máy mang tên của tôi vậy nếu tôi không chia cho anh ấy có được không hay bắt buộc phải chia ?

Kính mong luật sư sớm tư vấn giúp tôi. .

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất, Quyền ly hôn:

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 việc giải quyết thủ tục ly hôn có thể tiến hành theo 2 hướng:

1/ Thuận tình ly hôn: cả hai cùng đồng ý ly hôn và cùng ký tên trên đơn và thỏa thuận được các vấn đề về quyền nuôi con sau khi ly hôn và phân chia tài sản không còn tranh chấp gì.

2/ Đơn phương ly hôn (Yêu cầu ly hôn từ 1 phía): Trường hợp 1 bên vợ hoặc chồng không đồng ý ly hôn thì có thể giải quyết theo hướng đơn phương ly hôn

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn."
"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

Thứ hai, Mức án phí ly hôn:

Theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 mức án phí ly hôn là 300.000 đồng đối với trường hợp giải quyết ly hôn không có tranh chấp chia tài sản. Đối với trường hợp có tranh chấp về tài sản thì mức án phí được tính theo giá trị tài sản tranh chấp tính theo quy định tại bảng dưới đây.

Stt

Tên án phí

Mức thu

II

Án phí dân sự

1

Án phí dân sự sơ thẩm

1.1

Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động không có giá ngạch

300.000 đồng

1.2

Đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại không có giá ngạch

3.000.000 đồng

1.3

Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình có giá ngạch

a

Từ 6.000.000 đồng trở xuống

300.000 đồng

b

Từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c

Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000. 000 đồng + 4% của phầngiá trị tài sản có tranh chấp vượtquá 400.000.000 đồng

d

Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800.000.000 đồng

đ

Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 2.000.000.000 đồng

e

Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt 4.000.000.000 đồng.

Thứ ba, vấn đề con chung:

Trong trường hợp của chị do bé đã 4 tuổi nên theo quy định tại Điều 81, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi và con từ 3 tuổi trở lên vợ chồng thỏa thuận còn nếu không thể thỏa thuận tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Thứ tư, vấn đề tài sản chung:

Tài sản chung của vợ chồng được hiểu là tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung".

Như vậy: Chị có quyền làm đơn đơn phương ly hôn (theo yêu cầu từ một phía), và mức án phí ly hôn sẽ được tính theo quy định ở bảng trên tùy thuộc vào tính chất vụ việc có tranh chấp tài sản hay không; Về vấn đề tài sản do hình thành trong thời kỳ hôn nhân nếu chị không thể chứng minh được đây là tài sản riêng của chị thì tài sản đó được coi là tài sản chung và phải chia tài sản, bên cạnh đó do cháu bé đã 4 tuổi nên trường hợp này chị không còn quyền được ưu tiên nuôi con sau khi ly hôn nữa, cả hai bên phải đưa ra các căn cứ để chứng minh điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đứa bé và Tòa án sẽ đưa ra quyết định cuối cùng để bảo đảm quyền lợi tốt nhất của cháu.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay: Pháp luật hiện hành quy định về quyền nuôi con sau ly hôn và việc giải quyết tranh chấp về quyền nuôi con ?

3. Hướng dẫn trình tự ly hôn, nơi nộp đơn, dành quyền nuôi con và phân chia tài sản ?

Thưa luật sư, Tôi đã kết hôn được 3 năm và hiện có 1 con gái 26 tháng tuổi. Tôi thì sống và làm việc tại hà nội còn chồng là công nhân sống và làm việc tại bắc ninh cuối tuần chồng tôi được nghỉ thì lên thăm 2 mẹ con,từ lúc mới kết hôn đến hiện tại vẫn vậy.
Tiền nong của ai thì người đó tiêu và tôi không biết lương của anh ta là bao nhiêu, anh ta chưa bao giờ đưa tiền lương cho tôi giữ làm của chung bao giờ,tiền của tôi hoàn toàn do tôi kiếm ra , thỉnh thoảng anh ta còn mượn tiền của tôi và không mãi sau mới trả nhưng trả ít một. Đến khi có con thì 1 mình tôi chăm sóc , tôi đòi anh ta tiền nuôi con và 1 tháng anh ta đưa cho 2 triệu , nếu anh ta mua gì cho tôi thì sẽ trừ vào tiền đó. Chúng tôi có mua chung tài sản ở trên hà nội nơi tôi đang thêu trọ như điều hòa, tủ lanh , máy giặt nhưng số tiền tôi bỏ ra đều nhiều hơn số tiền anh ta bỏ.
Tôi muốn ly hôn và dành quyền nuôi con và muốn hỏi rằng tiền trong quá trình tôi làm ra trong thời gian lấy anh ta có chia 2 hay không mặc dù anh ta chưa bao giờ đưa tiền cho tôi tài sản góp chung chỉ là con gái và 1 số đồ gia dụng đã mua...
- Dung

4. Tư vấn về phân chia tài sản và quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi kết hôn được 2 năm, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, chúng tôi quyết định ly hôn. Trong thời gian chung sống, mọi thứ trong nhà như tủ lạnh, điều hòa, máy giặt, xe sh 125i do chồng tôi đứng tên chủ xe, chúng tôi có 1 con trai 15 tháng tuổi. Xin hỏi luật sư, nếu ly hôn thì tài sản chung như vậy thì giải quyết như thế nào ạ? Và con trai thì tôi có quyền nuôi hay không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.T.T.T

Tư vấn về phân chia tài sản và quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân về ly hôn, quyền nuôi con gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về tài sản chung của vợ chồng:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Như vậy nếu những tài sản mà bạn nêu trên được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và không có thỏa thuận khác thì được coi là tài sản chung, ví dụ như chiếc xe máy đứng tên chồng của bạn nếu được mua trong thời kỳ hôn nhân thì được coi là tài sản chung của hai vợ chồng.

Tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được chia theo quy định tại điều 59 Luật hôn nhân và gia đình như sau:

"1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Và theo quy định tại Điều 81 về việc chăm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy do con của vợ chồng bạn mới được 15 tháng (dưới 36 tháng) nên người mẹ sẽ có quyền nuôi con trừ trường hợp vợ chồng bạn có thỏa thuận khác hoặc vợ bạn không có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con. Trân trọng./.

>> Xem thêm: Chồng tố cáo vợ ngoại tình để giành quyền nuôi con phải làm sao ?

5. Chia tài sản và giành quyền nuôi con ?

Thưa Luật sư, em có câu hỏi mong Luật sư tư vấn giúp em, em gặp vấn đề rắc rối trong việc vợ chồng ly hôn và muốn giành quyền nuôi con. Người ly hôn là vợ chồng anh trai em. Do anh trai có lỗi khi ngoại tình, chị dâu em biết được tuy anh có xin lỗi và hứa không tái phạm nhưng do hai bên không thể hòa hợp được nữa.

Cả chị dâu và anh trai quyết định chia tay, vì cả hai không thể sống cùng nhau. Anh chị có 2 cháu trai, 1 cháu lớn 6 tuổi sống với ông bà nội ở quê từ nhỏ. Cháu nhỏ 10 tháng đang ở với anh chị. Chị sinh song tuy hết thời gian thai sản, nhưng anh muốn chị ở nhà để có thời gian chăm sóc con. Anh trai làm nghề tài xế lái xe tải cho một công ty may, làm giờ hành chánh. Chị dâu trước đây làm công nhân may, thường xuyên tăng ca. Nay anh chị ly hôn, nhưng anh em muốn nhận nuôi 2 cháu. Cháu lớn ở với ông bà từ nhỏ, cháu nhỏ cũng gần thôi nôi, nên anh muốn cháu được ông bà nội chăm sóc như anh trai. Hai vợ chồng lên sài gòn làm thuê, ở nhà trọ. Chị muốn giành nuôi cả hai con để trả thù chồng, nói anh hư hỏng nên không muốn cho con theo. Chị muốn bắt con gửi về ngoại. Gia cảnh bên ngoại rất khó khăn, phải ở nhà tình thương do hội chữ thập đỏ xây tặng, bà ngoại lớn tuổi mắt mờ, và bị đau khớp. Gia đình anh chị bên vợ rất khó khăn. Chị dâu em hiện tại đang không có thu nhập.

Chị cũng không phải là người biết quan tâm chăm sóc cho con cái. Cháu lớn ở với ông bà, chị chưa bao giờ hỏi thăm cháu như thế nào, chỉ có anh trai hay gọi về thăm nom cháu thôi. Thường xuyên cáu gắt và đánh đập con cái, đặc biệt với cháu nhỏ, tuy nói chị ở nhà chăm sóc con nhưng chị bỏ bê, không chăm sóc cháu, chỉ biết lên mạng chat chit với bạn bè. Không nấu cháo cho cháu ăn, tối về thì bỏ con cho anh trai, thay đồ đi chơi tới đêm mới về. Chị ấy ít chăm sóc cháu nhỏ, giành thời gian làm đẹp chăm sóc bản thân. Xét về thu nhập, hoàn cảnh hai bên, và sự quan tâm chăm sóc các con, thì anh trai em có được quyền nhận nuôi 2 cháu không ạ?

Chị hay vẫn hay chửi con theo kiểu xúc phạm cha nó (vd: giống thứ nào mà hư đốn khó dạy) lúc trước vợ chồng cãi nhau, chị nói nếu anh bỏ chị, chị sẽ giết anh và giết các con. Hiện tại chị muốn nuôi con vì để trả thù chồng, muốn chồng mất hết tất cả chứ không phải vì yêu thương các con mà muốn chăm sóc chúng. Anh chị có một số tài sản nhỏ gần 200 triệu, nhưng anh trai nói sẽ đưa hết cho chị, để chị có tiền để đi học nghề, và xoay sở trong cuộc sống. Rất mong bên văn phòng tư vấn giúp em, liệu anh em có thắng khi giành quyền nuôi con không?

Em xin chân thành cảm ơn!

Chia tài sản và giành quyền nuôi con ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến qua tổng đài, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Về quyền yêu cầu ly hôn:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn (Luật hôn nhân và gia đình năm 2014)

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.".

Căn cứ theo quy định, do anh chị bạn đang có con dưới 12 tháng tuổi nên chỉ có chị dâu bạn có quyền yêu cầu ly hôn hoặc 2 vợ chồng thỏa thuận về việc ly hôn.

Về việc giành quyền nuôi con

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.".

Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì trường hợp cha mẹ không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.Theo nội dung bạn cung cấp thì hiện tại, anh trai bạn là người có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con cái tốt hơn chị dâu bạn. Do đó, khả năng giành quyền nuôi con của anh trai bạn là khá cao

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

6. Tư vấn thủ tục lý hôn, chia tài sản, giành quyền nuôi con ?

Xin chào luật sư! tôi có một tính huống muốn nhờ luật sư giải đáp giúp tôi. Người chồng 27 tuổi làm nghề đánh bắt cá, người vợ 19 tuổi không nghề nghiệp.

Trong suốt thời gian làm dâu ở nhà gia đình chồng, đối với cha mẹ chồng thường có những hành vi vô lễ, thiếu lễ phép, thiếu tôn trọng cha mẹ chồng, không làm tròn trách nhiệm của người con dâu, đối với chồng thì không biết giữ thể diện, danh dự cho chồng, không làm tròn bổn phận của người vợ, đối với con mới 7 tháng tuổi, bỏ bê, không chăm nom, còn có những hành vi gần như ngược đãi con. Trong suốt thời gian hôn nhân, người vợ thường hay bỏ nhà đi về nhà mẹ, mà không quan tâm đến con.

Hỏi :

1. Với những điều trên khi ra tòa, bên chồng có thể được quyền nuôi con hay không? Mẹ của đứa bé có quyền nuôi con hay không và có được Tòa chấp nhận hay không?

2. Trong thời gian chờ ly hôn, nhà vợ có những hành vi như chữi bới, nhục mạ, thậm chí là đi bêu xấu gia đình chồng, thì đó có được coi là hành vi phạm pháp luật cần được xin lỗi và bồi thường danh dự không?

3. Với những hành vi đó, bên chồng có khả năng để nuôi con không? Nếu có thì còn cần những điều kiện và phương pháp nào để bên chồng được quyền nuôi con?

Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: H

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Chồng có được quyền nuôi con 7 tháng tuổi ?

Theo như thông tin bạn cung cấp thì người vợ đối với cha mẹ chồng thường có những hành vi vô lễ, thiếu lễ phép, thiếu tôn trọng cha mẹ chồng, không làm tròn trách nhiệm của người con dâu, đối với chồng thì không biết giữ thể diện, danh dự cho chồng, không làm tròn bổn phận của người vợ, đối với con mới 7 tháng tuổi, bỏ bê, không chăm nom, còn có những hành vi gần như ngược đãi con. Trong suốt thời gian hôn nhân, người vợ thường hay bỏ nhà đi về nhà mẹ, mà không quan tâm đến con.

Theo mục 8, Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân gia đình thì

"a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần. [..]".

Như vậy, tình trạng vợ chồng có thể coi là trầm trọng và người chồng hoàn toàn có quyền yêu cầu ly hôn theo điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014, cụ thể: "Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

Thủ tục ly hôn đơn phương bạn vui lòng tham khảo tại đây.

Về quyền nuôi con :

Theo điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định :

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.".

Như vậy, về nguyên tắc con 7 tháng tuổi sẽ được giao cho người mẹ trực tiếp nuôi. Tuy nhiên, xét trong trường hợp này, người mẹ bỏ mặc con từ lúc con còn nhỏ, có hành vi ngược đãi con, không quan tâm con, không nghề nghiệp...người chồng có thể đưa ra các bằng chứng chứng minh việc này, và chứng minh điều kiện vật chất : ăn, ở, sinh hoạt; điều kiện tinh thần...của người chồng tốt hơn người vợ. Tòa án sẽ căn cứ trên các yếu tố đó để xem xét người vợ có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hay không. Bên cạnh đó, muốn giành quyền nuôi con thì người chồng cũng có thể thỏa thuận với vợ phù hợp với lợi ích của con.

2. Nhà vợ chửi bới, xúc phạm, bêu xấu gia đình chồng

Điều 37 Bộ luật dân sự 2005 quy định : "Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.".

Nhà vợ có hành vi chửi bới, xúc phạm, bêu xấu gia đình nhà chồng cho nên theo quy định của Bộ luật dân sự tại điều 307 thì phải có trách nhiệm bồi thường:

"Điều 307. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần.

2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

3. Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại.".

Trường hợp này, 2 bên gia đình nên tự thỏa thuận với nhau. Nếu nhà vợ không đồng ý thỏa thuận thì bên nhà chồng có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi họ cư trú, làm việc yêu cầu giải quyết.

Nếu hành vi của nhà vợ có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể bị xử lý về tội Làm nhục người khác theo điều 121 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009, Tội vu khống theo điều 122 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 .

"Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.".

Trường hợp này nhà chồng có thể làm đơn tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền yêu cầu giải quyết.

3. Với những hành vi đó thì nhà chồng có quyền nuôi con không ?

Theo như những gì chúng tôi phân tích ở phần 1, chồng có quyền nuôi con khi chứng minh được người vợ không đủ điều kiện trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc vợ chồng có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Trong trường hợp người chồng không được Tòa án giao con thì để giành lại quyền nuôi con thì người chồng có thể đợi cho đến khi con 36 tháng tuổi và yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có đủ các căn cứ theo điều 84 Luật hôn nhân gia đình 2014, cụ thể :

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.".

Khi có yêu cầu của người chồng, Toà án sẽ xem xét lại điều kiện nuôi con của người vợ, nếu không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Thì toà án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cho người chồng.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê