1. Hướng dẫn ly hôn khi thường xuyên bị bạo hành tình dục ?

Tôi là giáo viên, chồng tôi là bộ đội. Hai vợ chồng tôi kết hôn đến nay đã được 14 năm, có 2 con trai chung, một 13 tuổi, một 9 tuổi. Trong những năm qua, vợ chồng tôi liên tục xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là trong đời sống tình dục, tôi thường xuyên bị bạo hành tình dục.

Ngoài ra, chồng tôi thường ghen tuông vô cớ, hay nói lời xúc phạm tôi. Sống với chồng, đời sống riêng tư của tôi bị hạn chế tối đa (như quan hệ bạn bè, người thân). Đến nay, những mâu thuẫn này vẫn không giảm mặc dù tôi đã hết lời khuyên nhủ. Nay tối muốn ly hôn và muốn được toàn quyền nuôi 2 con liệu có được không?

Xin nhờ luật sư tư vấn giúp. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người hỏi: NTT Hằng

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn, cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, bạn hoàn toàn có quyền ly hôn theo một trong hai hình thức: Thuận tình ly hôn hoặc đơn phương ly hôn

Điều 55, điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Căn cứ vào quy định trên, trường hợp hai vợ chồng bạn có mâu thuẫn xảy ra và bạn thường xuyên bị bạo hành tình dục dẫn đến đời sống của hai vợ chồng trầm trọng, không thể kéo dài thì Tòa án sẽ xem xét để giải quyết ly hôn theo đúng quy định của pháp luật.

Về vấn đề nuôi con, bạn có 2 con trai chung, một bé 13 tuổi và một bé 9 tuổi thì quyền nuôi con sẽ được giải quyết theo điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Trân trọng!

>> Xem thêm nội dung: Vợ có quyền nuôi con sau khi ly hôn với chồng bị thiểu năng trí tuệ không?

2. Vợ bị chồng ngoại tình hoặc bạo hành sẽ được chia nhiều tài sản hơn khi ly hôn ?

Trong quan hệ vợ chồng, đôi khi người chồng đi ngoại tình hoặc thực hiện các hành vi bạo hành đối với người vợ, nhưng người vợ không dám ly hôn vì sợ việc chia tài sản sẽ bất lợi cho mình. Nhưng những người phụ nữ hãy cứ yên tâm, pháp luật luôn có những quy định bảo vệ cho các bạn!

Trả lời:

Ngày nay, mặc dù việc bình đẳng giới đã được thúc đẩy và cải thiện, tuy nhiên vị trí của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam vẫn chưa thực sự bằng với nam giới. Trong các gia đình, luôn luôn có một tư duy là người phụ nữ phải là người làm việc nhà, luôn là người ở dưới người đàn ông. Cũng chính từ những tư tưởng lạc hậu này mà người đàn ông trong nhiều gia đình cũng thường xuyên có những hành vi bạo hành đối với vợ con hoặc ra ngoài "ăn vụng". Bài viết này không nhằm mục đích cổ xúy cho việc ly hôn của người phụ nữ, nhưng nó cũng phần nào giáo dục cho người phụ nữ biết các quyền mà mình có thể được hưởng khi quyết định ly hôn nếu bị bạo hành hoặc có chồng ngoại tình.

Khi có đơn xin ly hôn được gửi lên tòa án, Tòa án sẽ tiến hành hòa giải, nhưng khi hòa giải không thành thì một bên vẫn có quyền đơn phương ly hôn theo khoản 1 điều 65 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội​:

Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại tòa án không thành thì tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được

Người phụ nữ khi bị bạo hành hoặc có chồng ngoại tình có thể đơn phương ly hôn mà không cần sự đồng ý của người chồng. Khi ly hôn đơn phương, người phụ nữ nên chuẩn bị các bằng chứng chứng minh sự vi phạm của chồng mình trong quan hệ hôn nhân.

Đối với phần quan trọng nhất, là phần chia tài sản. Người phụ nữ trong những trường hợp này sẽ được xem xét được chia tài sản nhiều hơn. Theo nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn, khi ly hôn tài sản sẽ được chia đôi, nhưng không phải tất cả các trường hợp. Theo điểm d khoản 4 điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 6/1/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình ngày 6/1/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình về những yếu tố để xác định chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

d) “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Người đàn ông khi bạo hành hay đi ra ngoài ngoại tình đã có lỗi trong quan hệ hôn nhân, vi phạm quyền, nghĩa vụ vê nhân thân của người vợ dẫn đến việc ly hôn. Người chồng trong trường hợp này vừa không phải về tình mà cũng không đúng về lý. Đặt trong những tình huống này, người vợ cần phải hiểu rõ những quyền lợi mà mình có thể đạt được khi ly hôn. Ly hôn có thể là sự đổ vỡ của hôn nhân nhưng cũng chính là sự giải thoát cho người phụ nữ. Tòa án sẽ có căn cứ để xem xét chia tài sản chung cho người phụ nữ phần nhiều hơn.

Đồng thời, người phụ nữ khi có chồng bạo hành hoặc ngoại tình khi ly hôn còn được ưu tiên về quyền nuôi con. Nội dung này nằm ở quy định tại điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 :

Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con

Khi chồng bạn có những hành vi bạo hành hay ngoại tình, Tòa án sẽ xác định đây là những hành vi ảnh hưởng xấu tới quyền lợi của đứa nhỏ, cộng thêm các đánh giá khác về mặt kinh tế, giáo dục mà quyền nuôi con sẽ nghiêng về bên người phụ nữ nhiều hơn.

Sau cùng, người phụ nữ trong gia đình cần thay đổi chính tư tưởng của mình, đặt mình ngang hàng với người đàn ông, chia sẻ quyền và nghĩa vụ tương đương nhau giữa hai người để đảm bảo được hạnh phúc gia đình.

>> Tham khảo thêm nội dung: Điều kiện để được nhận quyền nuôi con sau khi ly hôn?

3. Không xúc phạm, bạo hành, không ngoại tình thì tòa có xử ly hôn không ?

Chào luật sư công ty Luật Minh Khuê, trong trường hợp tôi không xúc phạm tới quyền lợi và danh dự của vợ cũng như bạo hành gia đình và ngoại tình mà chỉ có 1 câu nói " hay e thích về dưới nhà ở " như vậy liệu tòa có chấp nhận cho việc ly hôn của vợ tôi không ạ. Trong thời gian đó tôi cũng xuống rất nhiều nhưng bị gia đình vợ đuổi nhiều lúc không cho tôi bế con cùng như vui chơi. Trong lúc vợ tôi về tôi cũng đã nhiều lần xuống xin lỗi vợ xin lỗi gia đình vợ. Gia đình tôi cũng đã xuống đón nhưng vợ cháu không về. Nay cháu nhờ tới các bác tư vấn cho tôi một hướng giải pháp tốt nhất ạ. Nếu vợ tôi nhất nhất đòi ly hôn thì tòa có chấp thuận không ?
Xin chân thành cảm ơn!

Vv Luật Minh Khuê trả lời nội dung tư vấn.

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.1940

Trả lời:

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Căn cứ điểm a Điều 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP:

8. Căn cứ cho ly hôn (Điều 89)

a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được.

a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Như vậy, việc bạn trình bày thì đây trường hợp vợ bạn làm đơn ly hôn đơn phương. Viêc nộp đơn ly hôn đơn phương sẽ phải dựa trên căn cứ ly hôn theo quy định của pháp luật nếu chỉ dựa trên câu nói của bạn thì không phải là cơ sở để Tòa án giải quyết ly hôn.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Hướng dẫn cách viết đơn ly hôn và thủ tục ly hôn tại tòa án?

4. Ly hôn khi chồng bạo hành và ép phá thai nhi ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Tôi có một người chị đã có chồng và 2 con. Cuộc sống cũng rất khổ cực, nên nhiều khi cũng cãi nhau. Chị tôi đã kế hoạch hóa gia đình, nhưng lại có thai lần nữa, đã đi kiểm tra nhưng cơ quan y tế báo là đã có thai ngoài mong muốn.

Chồng chị tôi biết, đòi bỏ cái thai đó, nhưng chị tôi thương con nên muốn giữ lại, và cãi lời chồng. Dù biết chị tôi mang thai nhưng chồng chị vẫn hay đánh chị, có một hôm dùng quạt máy đánh chị, chị biết không thể giữ được đứa con mình nữa nên đến gặp cơ sở y tế để bỏ cái thai, dù thực sự không nỡ, lúc về thì thai nhi ra, chồng chị đêm về nhà chôn cất và đổ cho chị tôi tội theo trai nên giử 2 đứa con và xe. Nay chị tôi muốn ly hôn và được quyền nuôi 2 đứa con. Tôi muốn xin quý luật sư hướng dẫn thủ tục ly hôn trong trường hợp của chị tôi.

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: Trà ĐG

>> Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.1940

Tư vấn thủ tục ly hôn khi chồng bạo hành gia đình

Trả lời:

Thứ nhất, chị của bạn cần chuẩn bị một bộ hồ sơ ly hôn (Luật hôn nhân và gia đình 2000, văn bản mới: Luật hôn nhân và gia đình 2014) , bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn (Tham khảo: Tải mẫu đơn xin ly hôn)

+ Biên bản hòa giải không thành (áp dụng đối với trường hợp xin ly hôn đơn phương);

+ Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có Sao y bản chính, của nguyên đơn và bị đơn).

+ Bản chính giấy chứng nhận kết hôn (nếu có), trong trường hợp mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải trình bày rõ trong đơn.

+ Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con).

+ Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).

+ Nếu hai bên kết hôn tại Việt Nam, sau đó vợ hoặc chồng xuất cảnh sang nước ngoài (không tìm được địa chỉ) thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương về việc một bên đã xuất cảnh và đã tên trong hộ khẩu.

+ Nếu hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài muốn ly hôn tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn xin ly hôn.

Thứ hai, sau khi chuẩn bị xong hồ sơ ly hôn, chị của bạn cần gửi lên tòa án có thẩm quyền giải quyết.

+ Về thẩm quyền theo chung:

Theo quy định tại điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011:

“Điều 33. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

1. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này;\

c) Tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Bộ luật này”.

Theo đó, “Điều 27. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.

5. Tranh chấp về cấp dưỡng.

6. Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định”.

Do đó, tòa án giải quyết ly hôn cho chị của bạn sẽ là tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc trung ương.

+ Về thẩm quyền theo lãnh thổ:

Căn cứ khoản 1 điều 35 BLTTDS, Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

“a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này”.

Như vậy, trường hợp này chị bạn nộp hồ sơ yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình tại TAND cấp huyện nơi chồng của chị bạn cư trú, làm việc.

Ngoài ra, căn cứ điểm b) khoản 1 điều 35 BLTTDS sửa đổi bổ sung 2011:

“b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này”;

Do vậy, vợ chồng của chị bạn còn có thể tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án cấp huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng để giải quyết.

Từ đó, thấy rằng để thực hiện thủ tục ly hôn có thể:

+ Gửi hồ sơ ly hôn lên tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc trung ương nơi chồng của chị bạn cư trú hoặc làm việc.

+ Hoặc vợ chồng chị của bạn thỏa thuận bằng văn bản lựa chọn Tòa án sẽ giải quyết ly hôn, sau khi thỏa thuận được thì gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi mà vợ hoặc chồng đang cư trú hoặc làm việc.

Thứ ba, về án phí khi ly hôn:

Án phí ly hôn theo quy định của pháp luật là: 300.000 Việt Nam đồng. Nếu có liên quan đến việc chia tài sản thì bạn phải chịu thêm mức án phí tương ứng tỉ lệ với tài sản được chia theo qui định của pháp luật. Tài sản được chia không phải là thu nhập, do đó bạn không phải chịu thuế thu nhập cá nhân.

>> Xem thêm: Tư vấn tranh chấp quyền nuôi con sau ly hôn?

5. Muốn làm đơn ly hôn cho mẹ, khi mẹ thường xuyên bị ba bạo hành ?

Thưa luật sư! Xin luật sư giải đáp giúp tôi vấn đề sau: Mẹ tô có 3 người con, ba tôi thì hơn mẹ tôi 12 tuổi. Tôi là con trai út, năm nay 22 tuổi, chị cả trong nhà cũng đã 30 tuổi. Mẹ tôi từ cái lúc bị ba tôi "cướp" lấy lúc năm chưa tròn 15 tuổi. Người ta hay bảo "chồng già vợ trẻ là sang", mà mẹ tôi từ lúc sống chung đến giờ cứ bị đánh đập, chửi bới. Chính quyền xã thì vì ba tôi làm tổ trường nên chỉ vô khuyên can chứ chưa giải quyết bằng luật bao giờ. Tôi năm nay 22 tuổi rồi phải giúp mẹ tôi được giải thoát khỏi cái cảnh này. Giờ luật sư cho tôi hỏi:

1. Nếu bây giờ mẹ tôi kiện lại tội hiếp dâm trẻ em vị thành niên thì ba tôi có bị bắt hay không?

2. Nhà thì nợ nần, đất thì đang trong vùng quy hoạch, bây giờ tôi muốn làm đơn ly hôn cho mẹ tôi thì như thế nào? thủ tục như thế nào? đi tới đâu để làm thủ tục? vấn đề tiền bạc như thế nào?

Cảm ơn luật sư nhiều!

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.1940

Trả lời:

1. Nếu bây giờ mẹ tôi kiện lại tội hiếp dâm trẻ em vị thành niên thì ba tôi có bị bắt hay không?

Điều 23 Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

"Điều 23. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;

b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

c) Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;

d) Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ."

Theo thông tin bạn cung cấp thì mẹ bạn lấy ba bạn khi chưa tròn 15 tuổi. Kể từ lúc đó đến bây giờ cũng đã được hơn 30 năm. Đến thời điểm hiện tại mẹ con bạn muốn kiện ba bạn tội hiếp dâm trẻ vị thành niên của hơn 30 năm trước. Trường hợp này ba bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, do đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Bộ luật hình sự 1999.

2. Nhà thì nợ nần, đất thì đang trong vùng quy hoạch, bây giờ tôi muốn làm đơn ly hôn cho mẹ tôi thì như thế nào? thủ tục như thế nào? đi tới đâu để làm thủ tục? vấn đề tiền bạc như thế nào?

Điều 49 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình quy định:

"Điều 49. Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này."

Như vậy, đối với hành vi đánh đập mẹ bạn, theo quy định của pháp luật tại Điều 49 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, ba bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt là từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng.

Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắcbệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ đượchành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Như vậy, trong trường hợp nếu mẹ bạn muốn ly hôn, mẹ bạn có thể nộp đơn lên Tòa án và yêu cầu Tòa án giải quyết đơn phương ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Khi nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn tại Tòa án, mẹ bạn phải chứng minh cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không hạnh phúc, ba bạn có hành vi bạo lực gia đình, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng và không thể kéo dài được nữa.

Về vấn đề chia tài sản khi ly hôn sẽ được giải quyết theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Tòa án có thẩm quyền giải quyết ly hôn là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi ba, mẹ bạn đang cư trú.

Hồ sơ xin đơn phương ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con

Sau khi nhận được hồ sơ xin ly hôn, Tòa án phải xem xét những tài liệu, chứng cứ cần thiết, nếu xét thấy thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án sẽ thông báo cho đương sự biết để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn kiện tòa án phải tiến hành thụ lý vụ án. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, đương sự phải nộp tiền tạm ứng án phí là 200.000 (nếu không có tranh chấp về tài sản). Sau khi nộp tiền tạm ứng án phí, đương sự nộp lại biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án. Tòa án thụ lý việc dân sự hoặc vụ án dân sự kể từ khi nhận được biên lai này.

Về thời hạn giải quyết các tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án là 4 tháng. Trong thời hạn 4 tháng kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp tòa án ra một trong các quyết định sau đây: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (đoàn tụ hoặc thuận tình ly hôn); Tạm đình chỉ giải quyết vụ án; Đình chỉ giải quyết vụ án; Đưa vụ án ra xét xử (nếu có một bên không đồng ý ly hôn hoặc có tranh chấp về con, tài sản). Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

>> Xem thêm: Ai có quyền nuôi con ? Lỡ ký văn bản đồng ý cho chồng nuôi khi ra tòa có quyền thay đổi không ?

6. Đơn phương ly hôn khi thường xuyên bị gia đình chồng bạo hành ?

Thưa luật sư! Tôi muốn hỏi về vấn đề vợ chồng tôi mới cưới nhau tháng 4 năm ngoái năm nay đã có cháu 10 tháng khi cưới nhau về thì anh gửi tôi lại cho bố mẹ chồng tôi nuôi( tôi hiện vẫn chưa có việc làm) rồi đi làm ăn ở quê ngoại tôi.

Từ đó đến nay tôi chưa được về thăm quê. Hồi tôi sinh con, mẹ tôi có ra chăm sóc vì bà kiêng khem kỹ sợ tôi bị hậu sản sau này nên làm gia đình nhà chồng tôi không vừa lòng. Bố chồng thường xuyên chửi mắng hắt hủi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và đuổi tôi ra khỏi nhà khi tôi mới sinh con 1 tuần và bắt tôi để con lại không quan tâm tới sự có mặt của mẹ tôi. Sau một tháng mẹ tôi về thì chồng tôi cũng về thăm nhưng cũng tỏ thái độ không hài lòng. Vì bố chồng nhiều lần đuổi nên tôi quyết định đưa con về ngoại . Tôi nhờ người quen đón định bí mật đưa cháu đi thì người kia lại bị công an bắt trước và tôi cũng bị lên xã và bị gán cho tội bắt cóc trẻ còn( lúc đó con tôi 2 tháng tuổi). Sau gia đình nhà chồng xin cho tôi về và người kia cũng được thả ra. Từ đó gia đình càng quản lý chặt, bố chồng vẫn chửi mắng tôi là đồ ăn bám và đuổi tôi đi vì vợ chồng tôi vẫn chưa có nghề nghiệp ổn định và phụ thuộc vào ông bà. Cuộc sống vợ chồng tôi cũng không mấy là thuận hòa anh cũng hay chửi tôi là loại ngu xuẩn không biết làm gì cho đời và tịch thu điện thoại của tôi vứt đi không cho tôi liên lạc với ai nữa. Anh cũng điện và mắng nhiếc mẹ tôi vì không biết dạy con, chị chồng tôi cũng điện về mắng nhiếc và bắt mẹ tôi ra xin lỗi cả gia đình. Con tôi hiện giờ vẫn chưa làm giấy khai sinh vì tôi chưa chuyển khẩu về.

Tôi không có ý định chung sống thêm nữa nhưng hễ muốn đi thì gia đình chồng bắt tôi phải để con lại. Nhưng gia đình chồng vẫn ép tôi chuyển về để làm giấy khai cho cháu vì không có khẩu mẹ bên tư pháp họ không làm, chồng tôi đã nhiều lần giấu tôi đi nhờ vả riêng tư nhưng không được. Tôi đã thẳng thắn nói sẽ không chuyển về và có ý định muốn ly hôn chồng tôi đã đánh tôi và còn xuống bếp mang dao lên dọa giết tôi. Cả nhà cũng chẳng ai can mà bố chồng cũng hùa vào trách là tại tôi. Sau đó ít hôm khi chồng tôi đi làm rồi tôi và bố chồng có xích mích và bố chồng tát mạnh vào mặt tôi. Vợ chồng tôi hiện tại cũng không còn tình cảm gì với nhau và cũng chưa ai có nghề nghiệp ổn định. Vậy tôi xin hỏi việc làm đưa con trốn đi có vi phạm pháp luật không? Và khi ra tòa có bị truy cứu trách nhiệm không?

Hiện tại tôi phải làm sao để 2 mẹ con tôi được về ngoại gia đình chồng đe dọa nếu tôi đưa con đi thì sẽ báo công an. Tôi không thể bỏ lại con được tôi có thể lấy lý do gì để ly hôn đơn phương? Làm sao tôi làm giấy khai sinh cho con khi chồng giữ giấy chứng sinh và không chịu đưa ra giấy CMND và sổ hộ khẩu? Không có sự đồng ý và hộ khẩu của tôi liệu chồng tôi có làm được giấy khai sinh cho cháu không. Gia đình chồng có người quen làm chức cao ở huyện nên cũng được công an xã bảo trợ vậy việc tôi muốn đưa con về và ly hôn có gặp khó khăn không? Bố chồng tôi nói sẽ tính tiền ăn tôi ở trong gần 2 năm qua nếu tôi thanh toán tôi có được yêu cầu Tòa án giới hạn quyền thăm cháu của gia đình không ?

Mong luật sư giúp đỡ. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đơn phương ly hôn khi thường xuyên bị gia đình chồng bạo hành ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

"Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội."

Theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì cha, mẹ có quyền chăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc con chưa thành niên. Bạn là mẹ của bé, bạn có quyền đưa bé đi bất cứ đâu cùng bạn miễn là không làm gì trái quy định của pháp luật. Việc bạn đưa con mình sang nhà bà ngoại hoàn toàn không có gì sai, không vi phạm đạo đức xã hội và pháp luật cũng không hề ngăn cấm điều này. Không ai có quyền ngăn cấm việc thực hiện quyền của người mẹ đối với đứa con do chính mình sinh ra. Vì vậy, bạn không cần phải lo lắng với những lời đe dọa từ phía gia đình chồng bạn.

Về vấn đề ly hôn đơn phương Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Theo những thông tin mà bạn cung cấp, chồng bạn có hành vi bạo lực gia đình với bạn, hai người không còn tình cảm với nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bạn cũng thường xuyên bị chồng và gia đình chồng mắng nhiếc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, khi bạn yêu cầu ly hôn mà Tòa án hòa giải không thành thì Tòa án sẽ giải quyết ly hôn cho bạn. Trường hợp này bạn hoàn toàn có quyền đơn phương ly hôn.

Thủ tục ly hôn đơn phương:

Bạn nộp đơn yêu cầu xin ly hôn đơn phương tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn và chồng bạn đang cư trú.

Hồ sơ xin đơn phương ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con

Về vấn đề quyền nuôi con sau khi ly hôn, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đinh 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con"

Như vậy, con bạn mới được 10 tháng tuổi, theo quy định thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, bạn sẽ là người trực tiếp nuôi bé trừ trường hợp người bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc bạn và chồng bạn có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Về vấn đề làm giấy khai sinh cho con khi không có Giấy chứng sinh:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Nghị định 06/2012/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực:

“1. Người đi đăng ký khai sinh phải nộp Tờ khai, Giấy chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn).

Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.

Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.”

Trường hợp của bạn, do chồng bạn giữ Giấy chứng sinh và anh ta không chịu đưa giấy chứng sinh cho bạn để đăng ký khai sinh cho con. Thì trong trường hợp này bạn có thể làm giấy cam đoan về việc sinh con là có thực để được đăng ký khai sinh cho con bạn theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê