1. Đơn phương ly hôn và thuận tình ly hôn?

Xin luật sư giải đáp giúp tôi: Vợ chồng tôi kết hôn tháng 10/2013, đăng ký kết hôn tháng8/2014. Sau đó khoảng 1 tháng thì xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết. Vợ chồng thường xuyên cãi cọ, chồng tôi luôn nghi ngờ tôi không chung thủy.

Mỗi lần cãi nhau chồng tôi luôn đưa giấy bút bắt tôi viết đơn. Và đã ly thân tính đến nay là 22 tháng. Từ khi ly thân, chồng tôi chưa từng 1 lần nhắc tôi quay lại chung sống. Tuy đã được gia đình 2 bên khuyên ngăn, tôi cũng từng quay về sống chung, nhưng tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không cải thiện nên tôi xin phép gia đình chồng về nhà bố mẹ đẻ ở hẳn. Tháng 6/2016 tôi đã làm đơn ly hôn. Thẩm phán có nói lý do ly hôn của tôi chưa hợp lý.

1. Vậy tôi mong luật sư giải đáp giúp tôi, cuộc sống của tôi như hiện tại có đủ điều kiện để được tòa giải quyết ly hôn hay không. Nếu tòa không giải quyết ly hôn cho tôi thì tôi có quyền gửi hồ sơ ly hôn của mình cho cơ quan nào để được giải quyết ly hôn?

2. Theo luật hôn nhân và gia đình thì sau khi ly hôn người trực tiếp nuôi con không được ngăn cản người không trực tiếp thăm nom, chăm sóc, giáo dục con cái... Nhưng về việc đón con đi hay đưa con đi thì trong luật không có quy định nào. Vậy nếu như tôi là người trực tiếp nuôi con, tôi không đồng ý cho người không trực tiếp nuôi con đón con đi (nhất là đi qua đêm vì con tôi còn nhỏ mới 15 tháng tuổi) thì tôi có bị coi là vi phạm pháp luật hay không ?.

3. Tôi có làm đơn xin ly hôn chồng, nhưng là đơn ly hôn thuận tình có cả chữ ký của 2 vợ chồng. Nộp tại tòa ngày 2/6/2016, Sau khi tòa thụ lý đơn ly hôn, tòa có giấy triệu tập vợ chồng tôi đến để viết bản tự khai vào ngày 21/6, nhưng giấy triệu tập gửi cho tôi qua đường bưu điện đã không tìm thấy địa chỉ nên bưu điện trả lại tòa. Tòa có giấy triệu tập tôi lần nữa vào ngày 27/6 vừa qua. Khi tôi đến làm bản tự khai thì người của tòa giải quyết vụ ly hôn (thẩm phán) luôn giải thích và khuyên tôi nên suy nghĩ lại và rút đơn về. Khi tôi trả lời rằng tôi vẫn quyết định ly hôn thì tòa có nói sẽ bác đơn của tôi nếu tôi không rút đơn. Nói lý do ly hôn chưa được vì tôi không giải thích được rõ những mâu thuẫn đã xảy ra, được coi là mâu thuẫn nhỏ và chồng tôi không có ý muốn quay lại (chồng tôi luôn luôn gây áp lực để tôi phải làm đơn vì anh ta không muốn làm). Tôi đã tìm hiểu và được biết rằng nếu vợ chồng tự nguyện xin ly hôn và tình trạng vợ chồng không có tình cảm, cuộc sống không thể kéo dài, không ai quan tâm đến ai thì vợ chồng tôi vẫn có thể được giải quyết ly hôn chứ ạ?. Hay tòa còn có ý gì khác mà tôi chưa hiểu. Mong luật sư giải đáp giúp tôi. Tôi xin chân thành cám ơn.

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời.

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Luật hôn nhân gia đình 2014 đang hiệu lực tuy nhiên chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể nào quy định hướng dẫn về việc hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vậy đối với trường hợp ly hôn phải đáp ứng điều kiện “đời sống hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được” thì có thể hiểu theo hướng dẫn của luật hôn nhân gia đình 2000 cũ như sau:

Theo mục 8, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 23/12/2000, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, giải thích như sau:

1. Được coi là tình trạng hôn nhân của vợ chồng trầm trọng khi:

– Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần;

– Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần;

– Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.

2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại mục 1 nêu trên. Nếu thực tế cho thấy vợ chồng đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Theo như chị trình bày thì bạn muốn đơn phương ly hôn chồng gửi hồ sơ xin ly hôn và bị toà án từ chối với lý do là bạn đưa ra lý do ly hôn chưa hợp lý, Toà án trong trường hợp này có thể hiểu theo hướng dẫn luật hôn nhân và gia định năm 2000 về tình trạng hôn nhân của vợ chồng rời vào tình trạng trầm trọng để giải quyết việc ly hôn của chị.

2. Căn cứ vào Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con."

Vậy chị không được cản trở chồng của chị đưa đón con đi học say khi ly hôn, tuy luật không quy định cụ thể về đưa, đón con đi học nhưng việc đưa đón con đi học là việc chăm sóc con sau khi ly hôn và chị không được cản trở chồng của mình thực hiện nghĩa vụ đó.

3. Thuận tình ly hôn. Căn cứ vào Điều 54 và Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 54. Hòa giải tại Tòa án

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

Vậy khi yêu cầu Toá án công nhận ly hôn theo thoản thuận của vợ chồng thì trước khi Toà án công nhận, toà án phải tiến hành hoá giải. Nếu hoá giải không thành thì xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về chia tài sản chung, con chung thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo ngay: Phải khởi kiện như thế nào để được giải quyết thủ tục đơn phương ly hôn một cách nhanh chóng ?

2. Tư vấn về nơi nộp đơn xin đơn phương ly hôn?

Thưa Luật sư! Tôi năm nay 39 tuổi. Kết hôn tháng 11/ 2004 có đăng ký kết hôn tại UBND xã nơi tôi cư trú và sống tới nay( chưa khi nào về sống ở nhà chồng) vì công việc chồng tôi cũng không ở nhà. Sau khi về thì có bồ bịch và đưa về nhà chồng sống với nhau vì vậy tôi vẫn sống bên ngoại và chính thức ly thân từ đó. Sau tôi có nộp đơn ly hôn có chữ ký của 2 bên, khi các đoàn thể ở xã gọi hòa giải lần thứ nhất chồng tôi không có mặt. gọi lần thứ 2 thì do sức khỏe tôi phải nhập viện và không giải quyết dứt điểm. Từ sau đó chồng tôi thường xuyên đe dọa đánh đập tôi khi gặp và có lần hàng xóm phải gọi cả công an xuống can thiệp. Có lần còn dọa nổ mìn cả nhà tôi.

Nhưng chưa bao giờ ngồi nói chuyện với nhau được tử tế khi gặp mặt. Khi thăm con thì mang cả con ra đe dọa tôi. Đến nay cũng đã 10 năm tôi sinh sống nhờ trong nhà ngoại tránh sự đe dọa và bạo lực của chồng. Vì công việc của tôi và khoảng cách 2 gia đình nên tôi không muốn về nhà chồng giải quyết ly hôn, vì một số thủ tục giấy tờ pháp lý của tôi không muốn liên quan đến chồng.

Vậy luật sư cho tôi hỏi có cách nào để giải quyết tại địa phương tôi đang sinh sống không, con trai tôi cháu sống cùng tôi từ nhỏ không được sự trợ cấp của chồng, Hộ khẩu 2 mẹ con và đăng ký kết hôn vẫn ở địa phương tôi ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn về nơi nộp đơn xin đơn phương ly hôn?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

- Theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia định năm 2014 thì một bên vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu ly hôn:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Nếu cuộc sống hôn nhân của bạn rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu toà án giải quyết ly hôn.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về thẩm quyền xét xử vụ án của tòa án:

"Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

..."

Như vậy, bạn bắt buộc phải nộp đơn xin ly hôn ở Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng của bạn cư trú hoặc làm việc để được giải quyết vụ việc nếu không thỏa thuận được với anh ta về nơi nộp đơn xin ly hôn. Vì theo quy định tại điều 40 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015, giải quyết ly hôn không thuộc trường hợp nguyên đơn được lựa chọn Tòa án:

"Điều 40. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;

c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;

đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;

g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;

h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết."

+ Trong thời hạn 3 ngày làm việc Toà án phải thông báo về việc thu lý vụ án cho bạn theo quy định tại khoản 1 Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như sau:

"Điều 196. Thông báo về việc thụ lý vụ án

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án.

Đối với vụ án do người tiêu dùng khởi kiện thì Tòa án phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án."

Như vậy, bạn cần nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án cấp huyện nơi bị đơn- chồng bạn cư trú, để đảm bảo an toàn và những quyền lợi chính đáng cho mình bạn có thể khai báo chi tiết những hành vi của chồng bạn như đe dọa, đánh đập, uy hiếp bạn.

Về hành vi đánh đập bạn, chồng của bạn có thể bị xử phạt theo quy định tại điều 49 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình

Điều 49. Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.
2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;
b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo ngay: Tư vấn đơn phương ly hôn khi bố chồng thường chửi bới, hắt hủi và đuổi ra khỏi nhà ?

3. Thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội hiếp dâm và thủ tục xin đơn phương ly hôn?

Thưa Luật sư, tôi xin hỏi vấn đề như sau: Mẹ tôi năm nay đã 46 tuổi có 3 đứa con, ba tôi thì hơn mẹ tôi đã 1 giáp. Tôi là con trai út năm nay 22 tuổi, chị cả trong nhà cũng đã 30. Mẹ tôi bị ba tôi "cướp" lấy lúc năm chưa tròn 15 tuổi. Từ lúc sống chung đến giờ, mẹ tôi cứ bị đánh đập, chửi bới. Chính quyền xã thì vì ba tôi làm tổ trường nên chỉ vô khuyên can chứ chưa giải quyết bằng luật bao giờ.

Tôi xin hỏi:

1) nếu bây giờ mẹ tôi kiện lại tội hiếp dâm trẻ em vị thành niên thì ba tôi có bị bắt hay không?

2) Nhà thì nợ nần, đất thì đang trong vùng quy hoạch, bây giờ tôi muốn làm đơn ly hôn cho mẹ tôi thì như thế nào?

3) Thủ tục như thế nào?

Cảm ơn công ty luật Minh Khuê !

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến công ty Luật Minh Khuê, căn cư vào các thông tin bạn cung cấp xin tư vấn như sau:

Thứ nhất: Điều 23 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi năm 2009 năm có quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

“Điều 23. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;

b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

c) Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;

d) Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”

Theo đó, dù ba của bạn phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đi nữa thì cũng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, không còn phải chịu trách nhiệm về hành vi đó nữa.

Thứ 2 về vấn đề ly hôn: Theo pháp luật hôn nhân gia đình, mẹ bạn có thể đơn phương ly hôn.

Khoản 1, Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn”. Dù ba của bạn có đồng ý hay không thì mẹ bạn vẫn có thể nộp đơn xin ly hôn.

Về thủ tục đơn phương ly hôn (ly hôn theo yêu cầu của một bên) được nộp tại tòa án.

Hồ sơ bao gồm:

1. Đơn xin ly hôn, có xác nhận của UBND cấp xã về hộ khẩu và chữ ký của bạn. Trong đơn bạn cần trình bày các vấn đề sau:

- Về kết hôn: Ở đâu? Thời gian? Kết hôn có hợp pháp không? Mâu thuẫn xảy ra khi nào? Mâu thuẫn chính là gì? Vợ chồng có sống ly thân không? Nếu có thì sống ly thân từ thời gian nào tới thời gian nào?

- Về con chung ( nếu có): Cháu tên gi? Sinh ngày tháng năm nào? Nay xin ly hôn bạn có yêu cầu gì về giải quyết con chung (có xin được nuôi cháu không, nghĩa vụ cấp dưỡng của cha cháu như thế nào)?

- Về tài sản chung: Có những tài sản gì chung? có giấy tờ kèm theo (nếu có). Nếu ly hôn bạn muốn giải quyết tài sản chung như thế nào?

- Về nợ chung: Có nợ ai không? có ai nợ vợ chồng không? Tên, địa chỉ và số nợ của từng người? Bạn muốn giải quyết như thế nào?

2. Bản sao Giấy khai sinh của con ( nếu có con);

3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của bạn và của người chồng;

4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì bạn phải xin xác nhận của UBND cấp xã nơi đã đăng ký kết hôn.

5. Các giấy tờ chứng minh về tài sản: ví dụ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở…

Vì mẹ bạn xin ly hôn đơn phương nên trên đơn khởi kiện không cần có chữ kí của ba bạn, nhưng mẹ bạn phải chứng minh mâu thuẫn trầm trọng giữa hai vợ chồng, chứng minh rằng cuộc sống gia đình không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án mới có căn cứ giải quyết cho mẹ bạn ly hôn.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định thẩm quyền giải quyết vụ việc của toàn án như sau:

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

Theo đó, mẹ bạn sẽ nộp đơn xin ly hôn đơn phương tại tòa án cấp huyện nơi ba bạn có hộ khẩu thường trú.

Căn cứ Điều 33 khoản 1 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng thì :

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng"

Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

"1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình".

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm.

Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua 1900.6162.

>> Tham khảo ngay: Nộp đơn đơn phương ly hôn ở đâu và thủ tục gồm những gì ?

4. Tư vấn về thủ tục và các chi phí khi đơn phương ly hôn ?

Em xin chào luật sư! Xin luật sư tư vấn dùm em trường hợp ly hôn đơn phương như sau: Em có người anh, hai vợ chồng anh cưới nhau gần 8 năm rồi và hiện tại thì chưa có đứa con nào cả. Khoảng 3 năm gần đây hai vợ chồng đã không còn hạnh phúc với lý do ông chồng có quan hệ với 1 người phụ nữ và có con với người phụ nữ đó (nhưng hiện tại thì anh tôi không còn qua lại với người phụ nữ đó nữa).
Dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau và hơn 1 năm nay thì hai vợ chồng tuy vẫn sống cùng 1 nhà nhưng cũng gần như ly thân, mạnh người nào người đó sống, không nói chuyện với nhau, không ăn cùng nhau, ngủ cùng nhau. Hiện nay anh tôi muốn ly hôn để giải thoát cho cả hai nhưng chị không đồng ý ký đơn ly hôn cũng như không cung cấp giấy kết hôn, sổ hộ khẩu cùng với giấy CMND của chị, cùng các giấy tờ nhà cửa khác. Hai vợ chồng anh tôi có 1 mua 1 căn chung cư năm đầu 2015 nhưng đến 2017 mới giao nhà, có 1 chiếc xe hơi mua 2013 nhưng một nửa tiền xe ba mẹ anh tôi cho còn 1 nửa vay ngân hàng. Có 1 miếng đất nhỏ ba mẹ anh tôi cho 2 vợ chồng anh. Anh tôi có 1 công ty dịch vụ, công ty không có tài sản cố định gì cả, và hiện tại anh chị đang ở trong 1 căn nhà thuê.
Vậy xin luật sư tư vấn dùm trường hợp anh tôi có thể đơn phương ly hôn được không? và cần phải có những giấy tờ hợp lệ gì để tòa án giải quyết ly hôn cho anh tôi? Thời gian tòa giải quyết ly hôn trong vòng mấy tháng? Và anh tôi có bị phạt gì khi có con với người phụ nữ khác? Tài sản được chia thế nào? Nếu nhờ phòng luật sư tư vấn làm các thủ tục cho anh tôi ly hôn xong thì chi phí khoảng bao nhiêu?
Xin chân thành cảm ơn ạ.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắcbệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ đượchành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Như vậy, trong trường hợp này anh trai bạn muốn ly hôn, tuy nhiên người vợ không chịu ký vào đơn ly hôn. Anh bạn có thể nộp đơn lên Tòa án và yêu cầu Tòa án giải quyết đơn phương ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Khi nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn tại Tòa án, anh trai bạn phải chứng minh cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không hạnh phúc, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng và không thể kéo dài được nữa.

Về vấn đề chia tài sản khi ly hôn sẽ được giải quyết theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Tòa án có thẩm quyền giải quyết ly hôn là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ chồng anh bạn đang cư trú.

Hồ sơ xin đơn phương ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con

Sau khi nhận được hồ sơ xin ly hôn, Tòa án phải xem xét những tài liệu, chứng cứ cần thiết, nếu xét thấy thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án sẽ thông báo cho đương sự biết để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn kiện tòa án phải tiến hành thụ lý vụ án. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, đương sự phải nộp tiền tạm ứng án phí là 200.000 (nếu không có tranh chấp về tài sản). Sau khi nộp tiền tạm ứng án phí, đương sự nộp lại biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án. Tòa án thụ lý việc dân sự hoặc vụ án dân sự kể từ khi nhận được biên lai này.

Về thời hạn giải quyết các tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án là 4 tháng. Trong thời hạn 4 tháng kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp tòa án ra một trong các quyết định sau đây: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (đoàn tụ hoặc thuận tình ly hôn); Tạm đình chỉ giải quyết vụ án; Đình chỉ giải quyết vụ án; Đưa vụ án ra xét xử (nếu có một bên không đồng ý ly hôn hoặc có tranh chấp về con, tài sản). Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

Trường hợp anh bạn có con với người phụ nữ khác, nếu chung sống như vợ chồng với người phụ nữ khác thì có thể sẽ bị xử phạt hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như theo quy định tại Điều 147 Bộ Luật Hình sự năm 1999:

"Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo ngay: Tư vấn đơn phương ly hôn khi không có giấy tờ ?

5. Đơn phương ly hôn khi một bên không xác định được nơi cư trú cụ thể ?

Xin chào Luật sư. Em có tình huống muốn được luật sư tư vấn ạ: Chị C và anh T kết hôn, chung sống hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 2011 thì chồng bỏ đi Miền Nam làm ăn. Năm 2013 anh T có về thăm nhà và yêu cầu chị C làm đơn ly hôn. Từ 2013 đến nay T không về nhà.

Xin chào Luật sư. Em có tình huống muốn được luật sư tư vấn ạ: Chị C và anh T kết hôn, chung sống hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 2011 thì chồng bỏ đi Miền Nam làm ăn. Năm 2013 anh T có về thăm nhà và yêu cầu chị C làm đơn ly hôn. Từ 2013 đến nay T không về nhà. Thỉnh thoảng gặp qua điện thoại, T vẫn yêu cầu chị C làm đơn gửi Tòa án huyện xin ly hôn. chị T làm đơn ly hôn gửi đến tòa án nhân dân huyện thì nhận được trả lời là không thụ lý đơn vì không có chữ ký của chồng, và yêu cầu do anh T đã vào Nam làm ăn nên chị C phải nộp đơn tại nơi anh T đang làm. Tuy nhiên, anh T làm ăn tự do không có nơi làm việc rõ ràng, không đăng ký tạm trú cụ thể cũng như không thông báo cho chị C biết địa chỉ hiện tại của mình.
Vậy phải làm như thế nào để chị C có thể đơn phương ly hôn mà không cần sự có mặt của anh T ?

Chị C nộp đơn tại tòa án nào để được thụ lý giải quyết ? Việc tòa án từ chối thụ lý đơn của Tòa ở trên là đúng hay sai ?

Em xin cảm ơn.

Đơn phương ly hôn khi  một bên không xác định được nơi cư trú cụ thể ?

Luật sư tư vấn Luật hôn nhân gia đình trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về vấn đề Tòa án không thụ lý đơn yêu cầu của bạn:

Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định như sau:

Điều 53: Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn

1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

Điều 54: Hòa giải tại Tòa án

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Theo đó, việc Tòa án thụ lý sẽ được tiến hành theo thủ tục tố tụng dân sự. Trường hợp của bạn là thuận tình ly hôn do đó thẩm quyền thụ lý quy định như sau:

Điểm d Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 ( có hiệu lực từ 01/07/2016) có quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ đối với việc dân sự:

"đ) Tòa án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;"

Theo đó, chị C có thể gửi đơn đến Tòa án nơi mình cư trú hoặc làm việc ( nếu có trụ sở). Đồng thời việc thuận tình ly hôn phải do cả hai bên vợ chồng đứng tên ký vào đơn. Do đó, Tòa không thụ lý đơn với lý do là không có chữ ký của chồng là đúng. Tuy nhiên, việc Tòa án từ chối nhận đơn với lý do không đúng thẩm quyền và yêu cầu chị C nộp ở Tòa án nơi chồng bạn làm việc là không đúng quy định trên của pháp luật bởi chị C có quyền nộp đơn ở Tòa án nơi mình cư trú hoặc làm việc và Tòa án huyện này có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ việc.

Thứ hai, Về việc ly hôn đơn phương:

Khoản 1 Điểu 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Do đó, trường hợp chị C muốn ly hôn mà không cần có mặt của anh T thì chị có thể tiến hành nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn đơn phương. Và trường hợp ly hôn đơn phương sẽ tiến hành theo thủ tục sau:

Về thẩm quyền, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định như sau:

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

Bên cạnh đó, Điểm a Khoản 1 Điều 40 cũng quy định:

Điều 40. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

Do đó, trường hợp của chị C( nguyên đơn) sẽ phải nộp đơn tại Tòa án nơi chồng chị ( bị đơn) cư trú, làm việc nhưng anh T lại làm ăn tự do không có nơi làm việc rõ ràng cũng như không đăng ký tạm trú cụ thể cũng không thông báo cho chị C địa chỉ rõ ràng thì chị C sẽ có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo ngay: Đơn phương ly hôn được không khi không còn yêu chồng ?

6. Đang mang thai có được đơn phương ly hôn không ?

Thưa luật sư cho em hỏi : Em lập gia đình đã được 7 năm nay nhưng cuộc sống vợ chồng không được hoà thuận, do anh ấy rất mê cờ bạc - cá độ - số đề. Và rất nhìêu năm nay luôn trong cảnh nợ nần, vợ chồng em đã có với nhau 1 bé năm nay gần 7 tuổi.
Trong những năm qua vợ chồng em luôn cãi nhau về cuộc sống do bài bạc gây nên. Nhiều lần em cũng đưa đơn cho anh đòi ly hôn vì khuyên can anh không được, nhưng anh đều tỏ ra hối hận - xin lỗi, có lần nói ngang là: mầy muốn ly hôn thì đưa đơn đây, để con đó cho tao nuôi thì tao ký, và khi đó em cứ sợ không nhận được quyền nuôi con vì mức luơng của em chỉ có 4 triệu còn anh thì hằng tháng gần 10 triệu, nên rồi em cố gắng chịu đựng. Từ đó đến nay em cứ ráng sống và củng không còn tình cảm gì nhiều với chồng nữa, nhưng.... Không may em lỡ mang thai em bé thứ 2 và bây giờ được 6 tháng nhưng chồng em tỏ ra không thích vì biết đứa thứ 2 vẫn là bé gái và càng chơi bời không lo cho cuộc sống gia đình hơn.
Tuy đang mang thai nhưng em cảm thấy rất chán nãn và muốn được ly hôn hơn nữa nên em muốn hỏi nhờ luật sư tư vấn cho em là em nên chờ sinh em bé ra rồi đưa đơn ly hôn hay đưa đơn bây giờ ạ ? Và hộ khẩu của vợ chồng em ở Quãng Ngãi nhưng đã sống tại TP.HCM được gần 10 năm nay (nhưng chưa có kt3)thì đưa đơn ở đâu thì giải quyết để nhất ?
Em xin cảm ơn!

Đang mang thai có được đơn phương ly hôn không ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Về quyền ly hôn:

Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy đình về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

“1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.

Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chỉ hạn chế quyền đơn phương ly hôn của người chồng khi vợ đang có thai, sinh conm hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi mà không hạn chế quyền của người vợ. Vì vậy, trường hợp của chị, chị đang mang thai thì vẫn có quyền đơn phương yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Khi đơn phương ly hôn thì Tòa án sẽ căn cứ vào tình trạng hôn nhân thực tế của vợ chồng để ra phán quyết theo quy định tại điều 56 luật hôn nhân & gia đình 2014 về ly hôn theo yêu cầu của 1 bên. "1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

Để được tòa án thụ lý đơn ly hôn đơn phương thì cần phải có căn cứ ly hôn, căn cứ ly hôn trong trường hợp này bao gồm:

+ Vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được;

+ Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn;

+ Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Như vậy , trong trường hợp này, nếu như một trong hai bên vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì người chồng hoàn toàn có quyền yêu cầu tòa án cho mình ly hôn đơn phương

Tình trạng hôn nhân trầm trọng ở đây được hiểu là :

Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

Vợ chồng không chung thủy với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.

Ở đây, theo như thông tin bạn cung cấp thì vợ chồng bạn đã có cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, chồng bạn đam mê cờ bạc, cá độ, số đề. Tòa án sẽ căn cứ vào trường hợp đây có phải tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được để làm căn cứ xét đơn ly hôn.

Về quyền nuôi con:

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Từ những quy định trên, có thể rút ra một số điều:

- Bạn đang mang thai và có một đứa con đã đủ 7 tuổi. Vậy Tòa sẽ theo nguyện vọng của con.

Bên cạnh đó, Điều 82 có quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Theo đó:

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Nếu bạn không được trực tiếp nuôi con thì vẫn có quyền được cấp dưỡng và thăm nom cháu bé. Không ai có thể cản trở quyền này của bạn. Do vậy chúng tôi khuyên bạn nên cân nhắc. Nếu bạn thực sự có khả năng để nuôi con một cách đầy đủ nhất, điều đó là tốt. Nhưng nếu bạn thấy chồng bạn là người có thể chăm lo tốt hơn cho con mình thì bạn có thể cân nhắc vấn đề này. Vì qua thông tin bạn đưa ra, có thể việc ly hôn này xuất phát từ chuyện riêng của vợ chồng và hai vợ chồng bạn đều yêu thương con mình. Vậy nên chúng tôi mong bạn và vợ bạn có thể cân nhắc kĩ lưỡng vấn đề này vì tương lai con bạn.

Về thẩm quyền giải quyết việc ly hôn:

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.".

Căn cứ vào quy định pháp luật trên thì:

- Nếu vợ chồng bạn ly hôn thuận tình, vợ chồng bạn có thể thỏa thuận với nhau về Tòa án nơi nộp đơn, có thể là Tòa án nơi bạn cư trú hoặc Tòa án nơi chồng bạn cư trú hoặc Tòa án nơi cả hai vợ chồng bạn cư trú.

- Nếu bạn ly hôn đơn phương thì bạn phải nộp đơn xin ly hôn tới Tòa án nhân dân quận/huyện nơi chồng bạn cư trú.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê