1. Hướng dẫn thủ tục ly hôn nhanh chóng nhất ?

Chào luật sư thưa luật sư cho con hỏi khi làm đơn ly hôn thì mình cần những thủ tục gì? Con có phải ra chính quyền địa phương nơi con ở xin giấy xác nhận không? các giấy tờ có cần chính quyền địa phương đóng dấu không ? Về phần con chung nếu như hai bên không thoả thuận được thì phải ghi như thế nào ạ? Chúc luật sư sức khoẻ.

Hướng dẫn thủ tục ly hôn nhanh chóng nhất ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo Luật hôn nhân gia đình 2014Bộ luật tố tụng dân sự 2011 để làm thủ tục ly hôn bạn cầu chuẩn bị hồ sơ như sau:

- ĐKKH bản chính;

- CMND, SHK của hai vợ chồng ( bản sao có chứng thực);

- Giấy khai sinh của con ( bản sao có chứng thực);

- Giấy tờ về tài sản ( nếu có);

- Đơn xin ly hôn đơn phương ( nếu ly hôn đơn phương), hoặc mẫu đơn thuận tình ly hôn ( nếu như vợ chồng bạn cùng thuận tình ly hôn);

Các giấy tờ như GKS của con, CMND, SHK thì cần có chứng thực của UBND.

Còn thủ tục ly hôn thì không làm tại UBND mà bạn nộp trực tiếp tại TAND cấp huyện nơi một trong hai vợ chồng đang cư trú, làm việc nếu như ly hôn thuận tình; hoặc tại TAND cấp huyện nơi bị đơn đang cư trú, làm việc nếu như ly hôn đơn phương.

về vấn đề nuôi con nếu vợ chồng bạn không thỏa thuận được thì trong đơn ly hôn bạn sẽ ghi là vấn đề nuôi con sau khi ly hôn thì vợ chồng bạn không thể tự thỏa thuận và yêu cầu tòa án giải quyết.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Ly hôn đơn phương nhưng vợ hoặc chồng không đồng ý ký đơn xử lý thế nào?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Các giấy tờ cần thiết khi muốn ly hôn ?

1. Chị họ của cháu muốn ly hôn thì thủ tục ly hôn như thế nào ạ? Ai sẽ là người chịu án phí ạ ? Và mức án phí hiện nay là bao nhiêu ạ? 2. Vợ chồng chị có 2 con trai: 1 cháu 8 tuổi và 1 cháu 4 tuổi. Nếu chị cháu muốn nhận nuôi cả 2 cháu thì có vướng mắc thủ tục pháp lí và có phải chứng minh tình hình tài chính gì không ạ? 3. Tài sản của họ có mảnh đất khoảng gần 400m2 được xây nhà 3 tầng.

Chào Luật Minh Khuê! Cháu tên là V cháu ở Hải Dương, cháu muốn tư vấn một số vấn đề như sau:

1. Chị họ của cháu muốn ly hôn thì thủ tục ly hôn như thế nào ạ? Ai sẽ là người chịu án phí ạ ? Và mức án phí hiện nay là bao nhiêu ạ?

2. Vợ chồng chị có 2 con trai: 1 cháu 8 tuổi và 1 cháu 4 tuổi. Nếu chị cháu muốn nhận nuôi cả 2 cháu thì có vướng mắc thủ tục pháp lí và có phải chứng minh tình hình tài chính gì không ạ?

3. Tài sản của họ có mảnh đất khoảng gần 400m2 được xây nhà 3 tầng. Nhưng mảnh đất tên bố mẹ chồng chị cháu. Họ không sang tên chủ sở hữu ạ. Trước khi chị cháu về làm dâu thì họ đã xây nhà mái bằng 1 tầng rồi ạ. Sau đó 2 vợ chồng xây tiếp lên 2 tầng nữa ạ. Và 1 nhà ăn 2 tầng mới xây lại gần đây ạ. Rộng 120m2 ạ. Họ có mua 1 xe máy Airblade đời 2016. Lúc mua là 45 triệu. Mẹ đẻ chị cho 5 triệu. Chị có 15 triệu nữa. Và anh chồng có 25 triệu. Cháu muốn hỏi luật sư:

a. Phần tài sản thuộc về nhà cửa sẽ được chia như thế nào?

b. Còn về chiếc xe Airblade kia anh chồng nhận là của anh ta hết ạ. Chị cháu có được chia chiếc xe này không?

c. Việc định giá tài sản dựa trên nguyên tắc nào ạ? Và ai là người được định giá tài sản ạ?

Cháu rất mong sớm nhận được thư trả lời. Cháu cảm ơn!

Quyền nuôi con ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Công ty luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Chị họ của cháu muốn ly hôn thì thủ tục ly hôn như thế nào ạ? Ai sẽ là người chịu án phí ạ ? Và mức án phí hiện nay là bao nhiêu ạ?

Về thủ tục ly hôn

- Quyền ly hôn và căn cứ cho ly hôn:

+ Về nguyên tắc vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên trường hợp vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn.

+ Tòa án xem xét, quyết định cho ly hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Tình trạng của vợ chồng trầm trọng;

b) Đời sống chung không thể kéo dài;

c) Mục đích của hôn nhân không đạt.

Vì bạn không nói rõ chị bạn muốn ly hôn theo trường hợp nào (thuận tình ly hôn hay đơn phương ly hôn) nên chúng tôi sẽ tư vấn hai thủ tục ly hôn sau:

- Thủ tục thuận tình ly hôn (hai vợ chồng đồng thuận ly hôn) như sau:

+ Điều kiện tiến hành thủ tục thuận tình ly hôn được quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội

"Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

Cụ thể: Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn; Hai bên đã thoả thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con; Sự thoả thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.

Trường hợp các bên chỉ tranh chấp một trong các vấn đề về tài sản, nuôi con, tình cảm.. Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp theo thủ tục chung.

+ Thủ tục thuận tình ly hôn

Bước 1: Bạn nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND quận/huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng;

Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc Tòa án kiểm tra đơn và ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho bạn;

Bước 3: Bạn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;

Bước 4: Trong thời hạn 15 ngày làm việc Tòa án tiến hành mở phiên hòa giải.

Bước 5: Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành (không thay đổi quyết định về việc ly hôn) nếu các bên không thay đổi ý kiến Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

+ Thời gian giải quyết: Hiện nay pháp luật chưa quy định cụ thể thời hạn Tòa án phải giải quyết vụ việc.

+ Hồ sơ khởi kiện xin ly hôn gồm có: (Hồ sơ có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường Bưu điện)

Đơn yêu cầu thuận tình ly hôn (theo mẫu của từng Tòa): VD: Xin mẫu đơn thuận tình ly hôn? ; Mẫu đơn xin ly hôn viết sẵn

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

Sổ hộ khẩu, CMTND (bản sao);

Giấy khai sinh của con (bản sao - nếu có);

Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐ (sổ đỏ); Đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao);

- Thủ tục đơn phương ly hôn (ly hôn theo yêu cầu 1 bên) như sau:

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

+ Trình tự xin ly hôn:

Bước 1: Bạn nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND quận/huyện nơi bị đơn (chồng hoặc vợ) đang cư trú, làm việc;

Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho bạn;

Bước 3: Quý khách nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;

Bước 4: Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và ra Bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án.

+ Thời gian giải quyết

Thời hạn chuẩn bị xét xử: Từ 4 đến 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án;

Thời hạn mở phiên tòa: Từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

+ Hồ sơ khởi kiện xin ly hôn gồm có: (Hồ sơ có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường Bưu điện)

Đơn xin ly hôn (theo mẫu). VD: Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương , Mẫu đơn xin ly hôn viết sẵn

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

Sổ hộ khẩu, CMTND (bản sao chứng thực);

Giấy khai sinh của con (bản sao chứng thực - nếu có);

Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐ (sổ đỏ); Đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao chứng thực);

Án phí ly hôn theo quy định của pháp luật là 300.000 Việt Nam đồng. Nếu có liên quan đến việc chia tài sản thì bạn phải chịu thêm mức án phí tương ứng tỉ lệ với tài sản được chia theo qui định của pháp luật. Tài sản được chia không phải là thu nhập, do đó bạn không phải chịu thuế thu nhập cá nhân.

2. Quyền nhận nuôi cả hai đứa con

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con".

Vợ chồng chị bạn đã có với nhau: 1 cháu 8 tuổi và 1 cháu 4 tuổi. Như vậy, căn cứ vào quy định trên, vợ, chồng bạn sẽ thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền, nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con, trong trường họp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Khi quyết định người trực tiếp nuôi con, Tòa án sẽ xem xét các điều kiện về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như tình cảm, đạo đức, phương pháp nuôi dạy con cái, tài chính, chỗ ở,… của cha và mẹ. Những căn cứ này nhằm hướng tới mục đích bảo vệ tốt nhất cho sự phát triển mọi mặt của con.

Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Điều 82 Luật hôn nhân gia đình 2014:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó".

Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn tại Điều 83 Luật hôn nhân gia đình 2014:

"Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con".

Như vậy, nếu chị bạn muốn nhận nuôi cả hai cháu thì cần phải thỏa thuận với chồng, trong trường hợp không thỏa thuận được thì chị bạn phải chứng minh được khả năng tài chính của mình có thể phát triển quyền lợi mọi mặt của con.

3. Chia tài sản sau khi ly hôn

Việc phân chia tài sản sau khi ly hôn được quy định tại các Điều 59, 61, 62 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

"Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

"Điều 62. Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này."

a. Phần tài sản thuộc về nhà cửa sẽ được chia như thế nào?

Tài sản của họ có mảnh đất khoảng gần 400m2 được xây nhà 3 tầng. Nhưng mảnh đất tên bố mẹ chồng chị bạn. Họ không sang tên chủ sở hữu ạ. Trước khi chị bạn về làm dâu thì họ đã xây nhà mái bằng 1 tầng rồi ạ. Sau đó 2 vợ chồng xây tiếp lên 2 tầng nữa ạ. Và 1 nhà ăn 2 tầng mới xây lại gần đây rộng 120m2.

Căn cứ vào các quy định nêu trên khi phân chia tài sản ly hôn thì phần tài sản mà bạn nêu sẽ chia như sau:

- Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

b. Còn về chiếc xe Airblade kia anh chồng nhận là của anh ta hết ạ. Chị cháu có được chia chiếc xe này không?

Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014: Tài sản riêng của vợ, chồng: "Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng"

Vậy, chiếc xe được coi là tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng nên ai là người đứng tên đăng ký xe thì chiếc xe sẽ là tài sản riêng của người đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

c. Việc định giá tài sản dựa trên nguyên tắc nào ạ? Và ai là người được định giá tài sản ạ?

Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về định giá tài sản và thẩm định giá tài sản như sau:

"Điều 104. Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản

1. Đương sự có quyền cung cấp giá tài sản đang tranh chấp; thỏa thuận về giá tài sản đang tranh chấp.

2. Các đương sự có quyền thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để thực hiện việc thẩm định giá tài sản và cung cấp kết quả thẩm định giá cho Tòa án.

Việc thẩm định giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm định giá tài sản.

3. Tòa án ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự;

b) Các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản;

c) Các bên thoả thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá.

4. Trình tự, thủ tục thành lập Hội đồng định giá, định giá tài sản:

a) Hội đồng định giá do Tòa án thành lập gồm Chủ tịch Hội đồng định giá là đại diện cơ quan tài chính và thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn có liên quan. Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người quy định tại Điều 52 của Bộ luật này không được tham gia Hội đồng định giá.

Hội đồng định giá chỉ tiến hành định giá khi có mặt đầy đủ các thành viên của Hội đồng. Trong trường hợp cần thiết, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến việc định giá. Các đương sự được thông báo trước về thời gian, địa điểm tiến hành định giá, có quyền tham dự và phát biểu ý kiến về việc định giá. Quyền quyết định về giá đối với tài sản định giá thuộc Hội đồng định giá;

b) Cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan có trách nhiệm cử người tham gia Hội đồng định giá và tạo điều kiện để họ làm nhiệm vụ. Người được cử làm thành viên Hội đồng định giá có trách nhiệm tham gia đầy đủ vào việc định giá. Trường hợp cơ quan tài chính, các cơ quan chuyên môn không cử người tham gia Hội đồng định giá thì Tòa án yêu cầu cơ quan quản lý có thẩm quyền trực tiếp chỉ đạo cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn thực hiện yêu cầu của Tòa án. Người được cử tham gia Hội đồng định giá không tham gia mà không có lý do chính đáng thì Tòa án yêu cầu lãnh đạo cơ quan đã cử người tham gia Hội đồng định giá xem xét trách nhiệm, cử người khác thay thế và thông báo cho Tòa án biết để tiếp tục tiến hành định giá;

c) Việc định giá phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ ý kiến của từng thành viên, đương sự nếu họ tham dự. Quyết định của Hội đồng định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành. Các thành viên Hội đồng định giá, đương sự, người chứng kiến ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản.

5. Việc định giá lại tài sản được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự."

Theo quy định trên thì các đương sự có quyền thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để thực hiện việc thẩm định giá tài sản và cung cấp kết quả thẩm định giá cho Tòa án. Tòa án sẽ ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá khi thuộc một trong các trường hợp:

- Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự;

- Các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản;

- Các bên thoả thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá.

Như vậy, việc thẩm định giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm định giá tài sản và Tòa án nhân dân là cơ quan ra quyết định định giá tài sản.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. Xác định tài sản của vợ chồng sau ly hôn ?

Thưa luật sư, Xin hỏi: Đất đai sau khi ba mẹ mất thừa kế lại cho vợ chồng tôi vào 2005 đến nay khi ly hôn có được chia phần đất đó không ?
Xin luật sư cho biết. Tôi xin cảm ơn!

Xác định tài sản của vợ chồng sau ly hôn?

Luật sư tư vấn luật đất đai gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Bạn cần làm rõ vấn đề về chủ sở hữu mảnh đất này như sau:

TH1: Mảnh đất thuộc sở hữu chung vợ chồng. Tiến hành chia tài sản chung theo pháp luật hôn nhân và gia đình 2014.

Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Nếu như có căn cứ cho rằng ba mẹ mất để lại di chúc chia mảnh đất cho cả 2 vợ chồng thì đây là tài sản chung và chia đôi hoặc theo công sức đóng góp theo luật hôn nhân và gia đình khi có yêu cầu ly hôn như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng."

TH2: Mảnh đất này không là tài sản chung vợ chồng, không tiến hành chia tài sản này khi ly hôn.

Về nguyên tắc khi ly hôn chỉ chia tài sản chung, không chia tài sản riêng. Có một số trường hợp xác định đây là tài sản riêng:

Khi bố mẹ mất vợ chồng không thuộc đối tượng được hưởng toàn bộ di sản thừa kế, còn có những người thừa kế khác.

Khi bố mẹ mất không để lại di chúc, chia đất theo hàng thừa kế, trong đó chỉ có con ruột mới được hưởng di sản này và không nhập tài sản riêng này vào khối tài sản chung vợ chồng.

Khi bố mẹ mất để lại di chúc và chỉ cho con ruột, người này không nhập tài sản riêng này vào khối tài sản chung vợ chồng.

Những điều cần lưu ý: Với những thông tin bạn cung cấp chưa đủ căn cứ để khẳng định mảnh đất này có được chia không, tuy nhiên ban tham khảo bạn rơi vào trường hợp nào trong những trường hợp trên để biết được đất này có được chic không và chia như thế nào

>> Tham khảo bài viết liên quan: Nguyên tắc phân chia tài sản chung khi ly hôn?

4. Tư vấn ly hôn với người mất tích ?

Kính chào luật Minh Khuê ! Em xin trình bày trực tiếp vấn đề cần tư vấn : Em có giới thiệu 1 người bạn , là người Đài Loan về Việt Nam kết hôn , mọi thủ tục đã hoàn tất , phỏng vấn xin visa cũng pass ... chỉ chờ bù 1 ít giấy tờ, ra visa, book ngày bay thôi .. Có 1 hôm, chị gái ( cô dâu mới ) xin gia đình đi gặp bạn uống cà phê chia tay bạn bè, thì từ ngày hôm đó đến nay gia đình k liên lạc được nữa ( tính đến hnay là hơn 1 tháng ).

Hai người thích nhau khi xem hình, có liên lạc tìm hiểu nhau qua mạng line, fb..., cô dâu kém chú rể 3 tuổi, họ là 1 cặp đẹp đôi, khi đến với nhau họ đều độc thân , cô dâu mới là giáo viên mầm non ( 1984) , họ rất háo hức khi đậu phỏng vấn, bao nhiêu kế hoạch cho tương lai được vẽ lên ... Bây giờ cô gái mất tích không 1 lí do, không 1 tin nhắn ...gia đình hai bên đang rất hoảng loạn , chờ đợi thì không biết chờ đến bao giờ, dừng lại thì không biết bắt đầu từ đâu . Vì thế, em tha thiết cầu mong sự giúp đỡ của văn phòng : - Nếu xét về yếu tố pháp luật , chú rể muốn ly hôn thì sẽ phải chuẩn bị những gì ?

Có thể nhờ người đại diện không ? Em cám ơn và mong tin !

Người gửi: T.V

Tư vấn ly hôn với người mất tích ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Kính chào bạn ! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Dựa trên thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Xét theo pháp luật Việt Nam về hôn nhân thì đây thuộc trường hợp hôn nhân mang yếu tố nước ngoài. Bởi lẽ cô gái là người Việt Nam và người chồng là người Đài Loan. Hơn nữa hiện nay bên chú rể muốn ly hôn thì xét theo Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội​ quy định Ly hôn có yếu tố nước ngoài như sau: "

"1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó."

Vậy, Việc ly hôn của 2 người này sẽ do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết.

Theo đó, như bạn cung cấp, hiện cô dâu đã mất tích hơn 1 tháng, khi chú rể muốn ly hôn thì phải thực hiện theo trình tự sau theo quy định pháp luật Việt Nam.

Bước 1: Chú rể gửi đơn đến Tòa án yêu cầu tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo Điều 74 Bộ luật dân sự 2005 quy định Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó : "Khi một người biệt tích sáu tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt quy định tại Điều 75 của Bộ luật này."

Bước 2: Sau khi đã yêu cầu Tòa án kìm kiếm người vợ vắng mặt tại nơi cư trú mà không có tin tức, nếu sau 2 năm liền mà vẫn không có tin tức thì sau đó chú rể yêu cầu Tòa án tuyên bố cô dâu mất tích theo Điều 78 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội Tuyên bố một người mất tích như sau:

" 1. Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn."

Bước 3: Nộp hồ sơ xin ly hôn đơn phương theo quy định của pháp luật.

Như vậy, dựa theo trình tự trên chú rể muốn ly hôn với cô dâu đang mất tích thì cần phải tiến hành các thủ tục trên thì mới có thể giải quyết ly hôn được.

Trân trọng./.

5. Xin luật sư cho tôi hỏi về quyền được nuôi con khi ly hôn?

Tôi và vợ tôi do không hợp nhau lên chia tay và chúng tôi đang tranh chấp quyền được nuôi con, tôi xin trình bày như sau: Truóc kia tôi làm trong nhà nước nhưng do khó khăn nên tôi đã nghỉ làm và hiện giờ tôi đang làm cho doanh nghiệp tư nhân kinh doanh về vật liệu xây dựng nhưng mới đi làm được 3 tháng lương tôi được trả là 14 triệu/tháng nhưng chỗ tôi làm cách nhà ở hiện tại là 70km nhưng sáng đi tôi về bằng xe ô tô của tôi.
Nhà tôi trung tâm của khu công nghiệp lớn và gần trường mầm non, tiểu học, trung học và phổ thông trung học, gần bệnh viện, gần trung tâm vui chơi giải trí cho các cháu nói chung là đầy đủ về mọi mặt tinh thần và vật chất cho cháu. Còn vợ tôi hiện đang công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam và thuộc biên chế của đài, hiên vợ tôi đang ở nhà thuê và lương của vợ tôi được 10 triệu/tháng và vợ tôi chưa có hộ khẩu Hà Nội. Điều kiện đi làm thì làm theo 3 ca và thường làm ca ngày từ 8h đến 19h mới hết ca. Tôi xin nói qua như vậy để Luật sư tư vấn cho tôi về quyền nuôi con sau khi ly hôn của vợ chồng tôi ?
Tôi xin chân thành cảm ơn.

Xin luật sư cho tôi hỏi về quyền được nuôi con khi ly hôn?

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chuyên mục tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Theo quy định tại điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 :

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo quy định trên, hai vợ chồng bạn có thể thỏa thuận người trực tiếp nuôi con và thỏa thuận này được Tòa án ghi nhận trong Bản án. Nếu hai bên không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con sau khi ky hôn thì Tòa án sẽ quyết định vấn đề này căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con và tuân theo nguyên tắc con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng (trừ trường hợp người mẹ không muốn nuôi dưỡng hoặc bị tước quyền nuôi dưỡng). Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét đến nguyện vọng của con.

Nếu con bạn đủ 3 tuổi trở lên thì bạn cần chứng minh các điều kiện của bạn tốt hơn vợ bạn để trực tiếp chăm sóc con, đem lại quyền lợi mọi mặt của con. Căn cứ vào những thông tin bạn đưa ra thì Tòa án sẽ có cơ sở giải quyết cho bạn.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng./.

6. Ly hôn rồi có được thăm nom và chu cấp cho con không?

Thưa luật sư, tôi có vấn đề này mong luật sư tư vấn giúp: Năm 2010 tôi cưới cô T làm vợ , Năm 2012 gia đình bất hoà và sau nhiều lần bị đuổi khỏi nhà bên vợ (vì vợ không chịu làm dâu), tôi đã phải ra đi trong buổi tối đầy bực tức.

Từ năm 2012 tới nay, nhờ hàng xóm giúp nên tôi gặp con vỏn vẹn được 3 lần, còn lại phải lặng lẽ về lại quê. Tôi không có điều kiện cung cấp tiền cho con. Cũng có lúc vì tức họ sống vì tiền nên có chút tiền tôi mua đồ cho con chứ không đưa họ, nhưng....chẳng đáng là bao.

Nay nhận lệnh triệu tập do vợ đệ đơn ly dị tôi rất lo. Phần vì tôi đang thất nghiệp 8 tháng nay không biết có thể nuôi con không . Phần vì không biết họ cho cha con gặp nhau không nếu vợ tôi là người nuôi đứa bé?

Mong luật sư tư vấn giúp. Trân trọng cảm ơn!

Ly hôn rồi có được thăm nom và chu cấp cho con không?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Thứ nhất, về quyền nuôi con

Theo Khoản 2,3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 :

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Đối với trường hợp của bạn, vì bạn không nêu rõ tuổi của con bạn nên xảy ra 3 trường hợp sau:

- Trường hợp 1: con bạn dưới 36 tháng tuổi.

Khi đó, quyền nuôi con đương nhiên thuộc về vợ của bạn. Tuy nhiên, nếu vợ bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom con hoặc hai vợ chồng có thỏa thuận khác thì sẽ xét đến yếu tố thỏa thuận.

- Trường hợp 2: con bạn từ đủ 36 tháng tuổi đến dưới 7 tuổi.

Ở tình huống này, Tòa vẫn sẽ chấp nhận yếu tố thỏa thuận giữa hai vợ chồng. Nhưng nếu không thỏa thuận được, Tòa án có quyền quyết định giao con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Nếu vậy, cơ hội để bạn giành được quyền nuôi con gần như không có vì bạn đã thất nghiệp 8 tháng nay.

- Trường hợp 3: con bạn từ đủ 7 tuổi trở lên.

Xét đến thời điểm này, con bạn hoàn toàn có đủ khả năng đánh giá ai là người đứa bé cảm thấy thân thiết và muốn ở bên. Vì thế, Tòa án cho phép đứa con tự quyết định sẽ ở với ai thay vì đưa rqa quyết định.

Thứ hai, về quyền thăm nom, cấp dưỡng.

Theo Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con."

Như vậy, dù bạn có được quyền nuôi con hay không, thì quyền thăm nom con vẫn thuộc về bạn, không ai được phép cản trở bạn thực hiện quyền này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi vào giờ hành chính ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân và gia đình - Công ty luật Minh Khuê