Không được quan hệ với người phụ nữ kia, nhưng qua thời gian người chồng không sửa đổi, thường xuyên bỏ nhà và một thời gian sau bỏ đi luôn (Hiện ở đâu không rõ). Sau đó em tôi có dò hỏi liên lạc thì mới biết rằng chồng em tôi đã sống như vợ chồng với người phụ nữ khác từ lâu. Sau đó mấy năm, em tôi có quen với một người đàn ông khác (Có vợ và đã ly hôn). Nay vợ chồng em tôi muốn làm giấy đăng ký kết hôn trễ hạn nhưng còn vướng đăng ký kết hôn với người chồng trước đó không liên lạc được và do cuộc khó khăn nên việc xin đang ký lần lựa mãi đến nay đã 20 năm.

Nay em tôi muốn làm thủ tục ly hôn đơn phương với người chồng trước đó và xin đăng ký kết hôn với người chồng hiện nay thì em tôi phải cần làm những thủ tục thế nào? nộp ở đâu? đơn viết tay hay có mẫu? - Với người chồng trước em tôi và người chồng không có tài sản chung, chỉ có 1 đứa con gái chung tôi nuôi từ mới sinh đến và ở cùng tôi đến nay - Với người chồng hiện nay không có con chung, như người chồng hiện nay thương yêu, chăm lo con riêng của vợ như con ruột của mình. Kính mong nhận được sự tư vấn, hướng dẫn của quý công ty, quý luật sư.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hôn nhân của Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gọi: 1900.1940

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự 2005;

- Luật hộ tịch 2014;

- Nghị định 123/2015;

- Bộ luật tố tụng dân sự 2004;

- Luật sửa đổi, bổ sung bộ luật tố tụng dân sự 2011;

Nội dung phân tích:

Thứ nhất: Thủ tục ly hôn với người chồng trước, hình thức của đơn và nơi nộp hồ sơ

Đối với trường hợp bạn muốn ly hôn với người chồng trước cần thực hiện hai thủ tục sau: 

- Yêu cầu Tòa án tuyên bố chồng trước của em bạn vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định tại Điều 74 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 74. Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó  

Khi một người biệt tích sáu tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt quy định tại Điều 75 của Bộ luật này."

Theo Điều 74 Đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người vắng mặt tại nơi cư trú được nộp tại Tòa án nơi người đó cư trú trước khi vắng mặt. Và đơn được viết tay bao gồm những nội dung sau: "a) Ngày, tháng, năm viết đơn;
b) Tên Toà án có thẩm quyền giải quyết đơn;
c) Tên, địa chỉ của người yêu cầu;
d) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự đó;
đ) Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến việc giải quyết đơn yêu cầu, nếu có;
e) Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu;
g) Người yêu cầu là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn.(khoản 2 Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011)"

- Yêu cầu Tòa án tuyên bố chồng em bạn mất tích: 

"Điều 78. Tuyên bố một người mất tích  

1. Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn."

Tương tự như trường hợp yêu cầu Tòa án tuyên bố một người vắng mặt tại nơi cư trú như trên thì đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích được nộp tại Tòa án nơi người đó cư trú trước khi mất tích và đơn này cũng được viết tay bao gồm những nội dung như tại khoản 2 Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011

Khi có quyết định tuyên bố một người mất tích thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 78 Bộ luật dân sự 2005.

Thứ hai: Thủ tục đăng ký kế hôn sau khi đã ly hôn với người chồng trước, hình thức của đơn và nơi nộp hồ sơ

Về thủ tục đăng ký lại kết hôn được quy định tại Điều 27 Nghị định 123/2015 như sau:

"Điều 27. Thủ tục đăng ký lại kết hôn

1. Hồ sơ đăng ký lại kết hôn gồm các giấy tờ sau:

a) Tờ khai theo mẫu quy định;

b) Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp trước đây. Nếu không có bản sao Giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao hồ sơ, giấy tờ cá nhân có các thông tin liên quan đến nội dung đăng ký kết hôn.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu thấy hồ sơ đăng ký lại kết hôn là đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại kết hôn như trình tự quy định tại Khoản 2 Điều 18 của Luật Hộ tịch.

Nếu việc đăng ký lại kết hôn thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký kết hôn trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký kết hôn trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký kết hôn, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký lại kết hôn như quy định tại Khoản 2 Điều này.

4. Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn trước đây và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ hộ tịch. Trường hợp không xác định được ngày, tháng đăng ký kết hôn trước đây thì quan hệ hôn nhân được công nhận từ ngày 01 tháng 01 của năm đăng ký kết hôn trước đây."

Theo đó em bạn cần nộp những giấy tờ để đăng ký kết hôn lại tại Ủy ban nhân dân cấp xã như sau: 

+ Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của bạn (bản chính);

+ Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác;

+ Tờ khai đăng ký kết hôn (theo mẫu quy đinh)

+ Xuất trình bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật về việc ly hôn (bản chính).

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!         

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hôn nhân và gia đình.