Năm 2014 chồng em mua đất và làm nhà tại Đồng Nai. Sau khi quyết định ly hôn, em quyết định để con lại cho chồng (mọi điều kiện của chồng em đều tốt hơn em: công việc ổn định, nhà cửa...trong khi em chưa có công việc và chổ ở mới). Chồng và gia đình nhà chồng sợ em dành tài sản là nhà cửa đất đai nên lên tiếng nói mọi thứ trong nhà chính tay chồng em và gia đình chồng em bỏ ra, em không có công.

Như vậy có hợp lý không ạ? Em lên tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, được hướng dẫn lấy mẫu đơn ly hôn (mẫu 1 người ký). Trong mẫu có phần ghi Tài sản chung: Nợ chung: Chồng em muốn em đứng ra viết đơn, ghi tài sản chung và nợ chung là không có. Bản thân em muốn được phân chia rõ ràng cả về quyền lợi và nghĩa vụ nuôi con, nhưng nếu em viết có tài sản chung là đất và nhà cửa thì cần phải có giấy tờ chứng minh, điều này là rất khó vì tất cả giấy tờ chồng em nắm giữ. Vậy giờ em phải làm sao ạ?

Mong luật sư có thể tư vấn dùm em, em cảm ơn nhiều

 chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc của mình tới Luật Minh Khuê. về thắc mắc của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2, Nội dung phân tích

Thứ nhất, theo như những gì bạn trình bày thì tôi hiểu rằng chồng và gia đình chồng vì sợ bạn dành tài sản, nhà cửa đất đai nên lên tiếng rằng mọi thứ trong nhà là do chồng và gia đình chồng làm ra bạn không có công nên không được hưởng. Như vậy là hoàn toàn không hợp lý. Bởi vì theo quy định tại Điều 33 luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau: 

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Như vậy, tất cả các tài sản, thu nhập mà hai vợ chồng bạn có được trong thời kỳ hôn nhân,các hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi người trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung của vợ chồng và đặc biệt là đối với quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn cũng là tài sản chung của vợ chồng trừ trường hợp vợ, hoặc chồng được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng,

Do đó, các tài sản của bạn, của chồng bạn có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, đặc biệt là nhà và đất mà chồng bạn mua và xây nhà tại Đồng Nai cũng được xác định là tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân vì vậy cũng là tài sản chung của vợ chồng( trừ trường hợp nhà và đất đó chồng bạn có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng). Do đó bạn cũng có quyền được chia các tài sản chung đó sau khi ly hôn. 

Thứ hai, về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng sau ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình. Và căn cứ vào Điều 59 thì chia làm hai trường hợp như sau:

trường hợp 1: Nếu như bạn và chồng bạn khi kết hôn thỏa thuận áp dụng chế độ tài sản theo Luật định thì sẽ giải quyết như sau:

Nếu như hai bạn lựa chọn chế độ tài sản theo luật định thì khi ly hôn tài sản sẽ được chia theo thỏa thuận của các bên. Và nếu như hai bạn không thỏa thuận được, bạn cảm thấy quyền và lợi ích của mình không được đảm bảo thì bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2,3,4 và 5 Điều 59 và các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật hôn nhân và gia đình. Cụ thể sẽ giải quyết như sau:

-Tài sản chung của vợ chồng ( tài sản chung của vợ chồng bao gồm những gì thi như đã phân tích ở trên) sẽ được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

-Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

-Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Và các Điều 60, 61, 62, 63, 64 quy định như sau:

"Điều 60.Giải quyết quyền,nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.

Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Điều 62. Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này.

Điều 63. Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn

Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Điều 64. Chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh

Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác."

Trường hợp thứ 2: Nếu như khi kết hôn hai bạn lựa chọn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn sẽ được áp dụng theo thỏa thuận đó. Tuy nhiên, nếu như thỏa thuận đó không đầy đủ, rõ ràng thì sẽ áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điểu 59 và tại các Điều 60, 61, 62, 63, 64 của Luật hôn nhân và gia đình giống như đã nêu ở trên.

Như vậy, nếu như khi ly hôn, đối với việc chia tài sản hai bạn không thống nhất được thỏa thuận bạn cảm thấy quyền lợi của mình không được đảm bảo thì bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn như đã phân tích ở trên tại trường hợp 1. 

-Về thắc mắc thứ hai của bạn về quyền lợi và nghĩa vụ nuôi con  thì đối với việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Tại đó quy định như sau:

"Điều 81.Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy con bạn hiện nay mới 2 tuổi  nên sẽ thuộc trường hợp con dưới 36 tháng tuổi nên sẽ được giao cho bạn trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên nếu như bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bạn và chồng bạn có thể thỏa thuận để chồng bạn trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo như khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 đã nêu trên.

Và nếu như bạn đã thỏa thuận với chồng và là người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì bạn có các quyền và nghĩa vụ sau theo Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn:

-về nghĩa vụ: bạn có nghĩa vu tôn trọng quyền quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và bạn có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con.

-về quyền: Bạn có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Luật Hôn nhân và gia đình - Công ty luật Minh Khuê