Và phần đất đấy chỉ đứng tên tôi chứ không có tên vợ. Tài sản chung trong gia đình chỉ có 1 chiếc xe máy, tủ lạnh, tivi,,,,và những vật dụng khác.... Sau khi ly hôn Tòa án đã xét xử như sau: thẩm định giá ngôi nhà và một số vật dụng chung khác sau đó chia đôi cho vợ chồng. Nhưng tôi không đồng ý với quyết định đó. Bởi vì tôi nghĩ nếu phân chia tài sản ngôi nhà phần đất đó cho vợ, thì cả 2 bên phải cùng nhau chia số nợ trước đây đã vay mượn. Còn nếu một mình tôi chịu toàn bộ số nợ đó thì phần đất đang đứng tên tôi sẽ không chia cho vợ. (nợ đến nay vẫn chưa trả xong) vợ tôi chỉ đồng ý chia tài sản nhưng phần nợ trước đây thì không đồng ý chia. Vậy tôi xin nhờ luật sư tư vấn giúp tôi trong trường hợp trên nếu phân chia tài sản thì tôi có phải chia cho vợ tôi số tiền tương ứng từ phần đất ấy không ?

Tôi xin cám ơn!

Câu hỏi được biên tập từ bộ phận tư vấn luật Hôn nhân của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình 2014 

2. Nội dung phân tích:

Các khoản nợ trong thời kì hôn nhân mà đến nay anh chị vẫn chưa trả xong thì pháp luật vẫn xác định đó là nghĩa vụ chung của anh chị. Khi anh chị ly hôn, mỗi người có nghĩa vụ thanh toán một nửa số nợ trên.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình về tài sản chung vợ chồng:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”. 

Như vậy, ngôi nhà do vay mượn bố ruột, anh chị em của anh chị và được xây dựng trong thời kỳ hôn nhân nên nó được xác định là tài sản chung của vợ chồng.

Về mặt pháp lý, sau khi ly hôn, anh, chị không còn là vợ chồng của nhau nữa nhưng những tài sản mà anh, chị yêu cầu tòa án giải quyết và kể cả các khoản nợ được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn được hiểu là tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng nên xử lý các khoản nợ chung sau ly hôn cũng áp dụng tương tự các quy định của pháp luật như chia tài sản khi ly hôn.

Cụ thể, theo Điều 60 Luật Hôn nhân và Gia đình thì việc Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

"1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết."

Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình về Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

"1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này."

Như vậy, việc anh chị vay nợ để mua đất xây dựng nhà là phục vụ nhu cầu thiết yếu trong thời kì hôn nhân nên đối với các khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân mà đến nay anh, chị vẫn chưa trả xong thì pháp luật vẫn xác định đó là nghĩa vụ chung của anh chị. Theo đó, mỗi người phải có nghĩa vụ thanh toán một nửa số nợ trả góp đó.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:  1900.1940  hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!         

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê