1. Khi ly hôn ai sẽ được quyền nuôi con 18 tháng tuổi ?

Xin chào văn phòng luật sư! Tôi đang muốn ly hôn đơn phương và giành quyền nuôi con, giữa hai vợ chồng không có tài sản chung, và nhà cửa, con tôi 18 tháng tuổi. Tôi hiện đang ở Đông Anh, Hà Nội. Xin văn phòng luật sư cho tôi biết nếu muốn tìm luật sư thì chi phí hết bao nhiêu ạ. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."
>> Như vậy, vợ chồng chị có thể thỏa thuận người trực tiếp nuôi con sau khi li hôn. Nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu tòa án quyết định. Tòa án sẽ căn cứ vào quyền và lợi ích của con. Về mặt nguyên tắc nếu con dưới 36 tháng tuổi sẽ do mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Mà cụ thể ở đây con bạn mới 18 tháng tuổi thì sẽ do người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn ly hôn và giành quyền nuôi con với chồng ham cờ bạc ?

2. Tư vấn về khả năng giành quyền nuôi con khi ly hôn ?

Xin chào Luật sư! Tôi có vấn đề thắc mắc rất mong nhận được sự giải đáp như sau: Tôi năm nay 31 tuổi, chồng tôi năm nay 41 tuổi, chúng tôi kết hôn được gần 7 năm và có 2 con chung là 1 bé trai 7 tuổi và 1 bé gái 5 tuổi. Hiện tại 2 vợ chồng tôi đều làm nghề tự do, anh ấy kinh doanh mặt hàng nhựa tái chế, còn tôi kinh doanh quán ốc. Thời gian đầu chúng tôi rất hạnh phúc, tôi học xog lớp CĐ Kế toán là lấy anh, rồi sanh liền 2 con, kinh tế gia đình anh lo. Từ hồi lấy nhau chúng tôi có chung tài sản là 1 căn nhà kèm mảnh đất ở khu vực ngoại thành, đó là tài sản do anh bán phân xưởng riêng của anh có được do tạo lập trước khi lấy vợ và chúng tôi cũng vay mượn thêm của cô ruột tôi 1 nửa số tiền bằng tài sản mua nhưng không có giấy ghi nợ mà chỉ nói qua sự quen biết trong gia đình, căn nhà đó hiện tại do tôi đứg tên nhưng anh đã lấy đi thế chấp ngân hàng vay vốn làm ăn. Chúng tôi có mở quán nhậu do tôi đứng tên, ban đầu kinh doanh có lãi, anh cho tôi toàn quyền quyết định và tôi cũng không lấy tiền cấp dưỡng hằng tháng anh lo cho mẹ con tôi như trước kia nữa. Tôi lo buôn bán đến 1 giờ khuya mới về, anh thì đi làm chạy tới chạy lui, chiều tối ra quán phụ tôi, chủ yếu là nhậu xã giao tiếp khách tiếp bạn. Sau đó tôi phát hiện a đi matxa và có qua lại với cô gái hành nghề matxa.
Tôi thật sự suy sụp và muốn ly hôn. Công việc làm ăn của tôi hiện tại không được ổn định cho lắm, có thể nói là kiếm ít tiền hơn anh nhưng tôi vẫn có khả năng lo cho con tôi chu đáo. Giờ tôi muốn làm đơn ly hôn nhưng không rành luật và muốn hỏi luật sư tôi có dành được quyền nuôi con không? Tôi không muốn chia con vì vài lần cãi nhau, anh cũng hay đùa là con trai ở với mẹ, con gái ở với ba, con gái tôi cũng rất quấn quít ba nó, tôi không muốn nó ở với ba nó vì nhiều trường hợp trên báo đăng ba bắt con làm nô lệ tình dục. Xin luật sư tư vấn cho trường hợp của tôi, sự nghi ngờ và những chứng cứ ít ỏi như vậy có thể ly hôn được không? Khoản nợ chung của vợ chồng tôi mượn cô ruột tôi sẽ được trả rõ ràng không?
Chân thành cám ơn luật sư!

Luật sư tư vấn Luật hôn nhân về quyền nuôi con, gọi: 1900.6162

Trả lời

- Thứ nhất về quyền ly hôn. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia"

Như vậy, chị có quyền gửi đơn yêu cầu ly hôn tời Tòa án nhân dân cấp huyện nơi hai bạn cư trú để yêu cầu giải quyết việc đơn phương ly hôn. Như thông tin chị cung cấp thì chồng chị có hành vi ngoại tình với một nhân viên matxa. Vì vậy, chị cần phải có những bằng chứng để chứng minh chồng bạn có hành vi ngoại tình để làm căn cứ thuyết phục trước Tòa án và cũng là một lợi thế để chị giành quyền nuôi con.

*) Thủ tục ly hôn bao gồm

1. Đơn xin ly hôn. Trong đơn chị cần trình bày các vấn đề sau:

- Về kết hôn: Ở đâu? Thời gian? Kết hôn có hợp pháp không? Mâu thuẫn xảy ra khi nào? Mâu thuẫn chính là gì? Vợ chồng có sống ly thân không? Nếu có thì sống ly thân từ thời gian nào tới thời gian nào?

- Về con chung: Cháu tên gì? Sinh ngày tháng năm nào? Nay xin ly hôn chị có yêu cầu gì về giải quyết con chung (có xin được nuôi cháu không, Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha cháu như thế nào)?

- Về tài sản chung: Có những tài sản gì chung? có giấy tờ kèm theo (nếu có). Nếu ly hôn chị muốn giải quyết tài sản chung như thế nào?

- Về nợ chung: Có nợ ai không? có ai nợ vợ chồng không? Tên, địa chỉ và số nợ của từng người? Chị muốn giải quyết như thế nào?

2. Bản sao Giấy khai sinh của cháu bé;

3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của chị và của chồng chị (nếu có);

4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì chị phải xin xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký kết hôn.

5. Giấy tờ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có).

*) Về khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân:

iều 60. Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết"

Như vậy, khoản nợ mà hai vợ chồng chị nợ người khác thì nghĩa vụ trả nợ thuộc về cả hai vợ chồng chị trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

*) Về quyền nuôi con sau khi ly hôn:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con."

Hiện nay thì vấn đề quyết định ai có quyền nuôi con sau khi ly hôn phụ thuộc khá nhiều vào quyết định của thẩm phán. Quyết định này sẽ dựa trên những điều kiện thực tế của vợ chồng. Ai là người có điều kiện tốt hơn nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu về vật chất và tinh thần thì người đó sẽ được trao quyền nuôi con. Điểm đáng chú ý là trẻ dưới 36 tháng tuổi sẽ do người mẹ trực tiếp nuôi trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con và với đứa trẻ mà được đủ 7 trở lên tuổi thì Tòa án sẽ phải hỏi ý kiến của con. Nếu muốn nuôi cả hai con chị cần chứng minh đựơc mình có khả năng trực tiếp đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và học tập của hai con và có những căn cứ để chứng minh được nếu ở với bố thì con gái bạn sẽ bị ảnh hưởng đến quá trình phát triển.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi dành cho quý khách hàng. Ý kiến tư vấn dựa trên những quy định của pháp luật và thông tin mà khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra sự tư vấn là để cá nhâ, tổ chức tham khảo. Nếu có vấn đề thắc mắc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua tổng đài 1900.6162để được tư vấn pháp luật trực tiếp.

>> Xem ngay: Không có tiền có dành được quyền nuôi con khi ly hôn không?

3. Bị án treo có được quyền nuôi con sau khi ly hôn không?

Thưa luật sư, Em có một thắc mắc như sau mong luật sư giải đáp ạ: Em đang bị án treo là 9 tháng tù treo và 1 năm 6 tháng thử thách.Vậy giờ em ly hôn em có được quyền nuôi con không ạ.Em có phải là phạm tôi và em có bị chuyển sang án từ giam không ạ?.

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: H.N

Luật sư tư vấn luật hôn nhân về thủ tục ly hôn đơn phương gọi: 1900.6162

Trả lời

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tại Điều 81 có quy định về Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, sau khi ly hôn, vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau về người trực tiếp nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ giao cho một bên nuôi căn cứ vào lợi ích của con, nếu con bạn từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem nguyện vọng của con thế nào, trường hợp con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ, nếu mệ đủ điều kiện nuôi con theo quy định pháp luật.

Theo điều 85 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên:

"1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này."

Trong trường hợp của bạn, bạn đã bị kết án và được hưởng án treo, nếu tội mà bạn thực hiện thuộc điểm 2, khoản 1 điều 85 trên thì bạn đã bị hạn chế quyền nuôi con của mình, nhưng nếu bạn không bị kết án về các loại tội thuộc trường hợp nêu trên thì bạn vẫn có thể được quyền nuôi con nếu bạn đáp ứng được các điều kiện nuôi con theo quy định pháp luật như đủ điều kiện chăm sóc, trông nom, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho con.

Theo Nghị quyết 01/2013/NQQ-HĐTP về hướng dẫn điều 60 của Bộ Luật hình sự về án treo tại Điều 1

"Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần buộc phải chấp hành hình phạt tù."

Như vậy, án treo không phải là một hình phạt mà là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù, bạn đã phạm tội, bị tòa án kết án, và được hưởng án treo,

Theo khoản 5 điều 60 Bộ Luật hình sự năm 1999 : Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này."

Điều 51. Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án

"1. Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật này.

Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.

2. Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật này.

3. Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Toà án ra quyết định tổng hợp các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này"

Như vậy, nếu trong thời gian thử thách bạn lại phạm một tội mới, thì phải phải chấp hành hình phạt theo quy định tại điều 51 nêu trên.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi.

>> Xem ngay: Tư vấn hỏi mẫu đơn, thủ tục ly hôn và giành quyền nuôi con cho người vợ ?

4. Ly hôn đơn phương và giành quyền nuôi con ?

Thưa luật sư! Hai vợ chồng tôi có hộ khẩu tại Thái Bình, hiện sống và làm việc tại Hà Nội. Vậy khi nộp đơn ly hôn có nhất thiết về nộp tại nơi có hộ khẩu không? Hiện tôi có 1 con trai gần 2 tuổi, tôi có được nuôi cháu không? Có quy định nào quy định con dưới 3 tuổi mẹ sẽ có quyền nuôi không? Tôi tha thiết được nuôi con vậy tôi cần những điều kiện gì để được nuôi con?

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, về vấn đề của bạn xin được tư vấn cho bạn như sau:

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn."

Để có căn cứ chứng minh tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thực hiện theo quy định tại mục 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP như sau:

"8. Căn cứ cho ly hôn (Điều 89)

a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được.

a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt."

Theo như bạn cung cấp thì bạn muốn ly hôn đơn phương, trường hợp này bạn là nguyên đơn còn người bạn muốn ly hôn cần làm các thủ tục sau:

1. Chuẩn bị và nộp hồ sơ xin ly hôn

a. Hồ sơ ly hôn bao gồm:

-Đơn xin ly hôn

-Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

-Bản sao có chứng thực chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng

-Bảo sao giấy khai sinh của con (nếu có)

-Các giấy tờ chứng minh tài sản chung (nếu có).

Bạn có thể tham khảo cách viết đơn xin ly hôn tại đây

b. Nơi nộp hồ sơ: Hồ sơ xin ly hôn sẽ nộp tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết

Về thẩm quyền theo cấp: Khỏa 1 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (Luật sửa đổi, bổ sung bộ luật tố tụng dân sự 2011) có quy định:

"1. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này; "

Về thẩm quyền theo lãnh thổ: Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 như sau: "a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này; "

Theo quy định của Điều 52 Bộ luật dân sự 2005, thì “1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này (Điều 52 BLDS) thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống”.

Trường hợp không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 36 BLDS như sau:

"1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết; "

Như vậy, Hồ sơ xin ly hôn sẽ được nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu không biết nơi cư trú, làm việc thì sẽ là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc cuối cùng).

2. Thủ tục giải quyết

a. Nhận đơn và thụ lý

ĐIều 167 BLTTDS quy định:

"Toà án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:

1. Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

2. Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;

3. Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án."

"Điều 171. Thụ lý vụ án

1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thì Toà án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Toà án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

2. Toà án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí.

3. Toà án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí."

Theo đó, trong vòng 5 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ của bạn thì Tòa án sẽ thông báo cho bạn về việctiến hành thụ lý và yêu cầu bạn nộp tiền tạm ứng án phí nếu hồ sơ của bạn đủ căn cứ để giải quyết. Việc thông báo và yêu cầu nộp tiền tạm ứng sẽ được thực hiện theo thủ tục cấp, tống đạt giấy tờ quy định tại Điều 146 BLTTDS.

Vì bạn ly hôn đơn phương nên theo quy định của Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP có quy định về việc nộp tiền tạm ứng án phí như sau:

-Trường hợp không có tranh chấp về tài sản: Khoản 2 Điều 11Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP quy định:

"a) Trường hợp vợ hoặc chồng có yêu cầu thì người yêu cầu phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng;"

-Trường hợp có tranh chấp về tài sản: Khoản 3 Điều 11 Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP quy định: "3. Trường hợp ngoài yêu cầu ly hôn, đương sự còn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu chia 1/2 giá trị tài sản chung của vợ chồng thì người có yêu cầu phải nộp tiền tạm ứng án phí đối với 1/2 giá trị tài sản chung của vợ chồng."

Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Toà án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ án. Yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án hoặc Thực hiện một hoặc một số biện pháp để thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 85 của BLTTDS.

Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.

b. Chuẩn bị xét xử

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Việc hoà giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:

- Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình;

-Nội dung thoả thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.

Trường hợp trong phiên hòa giải, bạn và bị đơn hòa giải được đoàn tụ thì tòa án tiến hành lập biên bản hòa giải thành, trong vòng 7 ngày mà không có tranh chấp gì thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các được sự.

Nếu trong phiên hòa giải, bạn và bị đơn vẫn có tranh chấp hoặc mâu thuẫn thì Tòa án sẽ ra quyết định mở phiên tòa xét xử.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án sẽ tiến hành áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, thu thập chứng cứ nếu xét thấy cần thiết hoặc nếu có yêu cầu của đương sự.

Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự là 4 tháng kể từ ngày thụ lý, trường hợp có trở ngại khách quan hoặc tình tiết phức tạp thì được gia hạn tối đa không quá 2 tháng.

Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Tòa án phải mở phiên tòa, trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng.

3. Án phí ly hôn

Theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án thì mức Án phí sơ thẩm là 300.000 đồng nếu không có tranh chấp về tài sản.

Nếu có tranh chấp về tài sản thì án phí có ngạch như sau:

1

Án phí dân sự sơ thẩm (áp dụng đối với cả việc ly hôn)

1.1

Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động không có giá ngạch

300.000 đồng

1.2

Đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại không có giá ngạch

3.000.000 đồng

1.3

Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình có giá ngạch

a

Từ 6.000.000 đồng trở xuống

300.000 đồng

b

Từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c

Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000. 000 đồng + 4% của phầngiá trị tài sản có tranh chấp vượtquá 400.000.000 đồng

d

Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800.000.000 đồng

đ

Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 2.000.000.000 đồng

e

Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt 4.000.000.000 đồng.

- Lưu ý: Về mẫu đơn khởi kiện ly hôn, bạn có thể đến Tòa án nơi sẽ nộp hồ sơ để mua rồi điền theo mẫu.

>> Bài viết tham khảo thêm: Dịch vụ luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

4. Về tranh chấp quyền nuôi con theo quy định của pháp luật hôn nhân gia đình:

Hiện nay theo quy định tại Điều 84 Luật HNGĐ 2014 thì sau khi ly hôn bạn có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn như sau:

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.\

Như vậy nếu có căn cứ theo quy định trên thì bạn có quyền làm đơn gửi đến Tòa án yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

4.1 Về thẩm quyền của Tòa án

Căn cứ theo Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (SĐBS 2009) thì trường hợp của bạn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh. Việc thẩm phán trả lời như vậy là đúng pháp luật.

Điều 34. Thẩm quyền của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
1. Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây:
a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 Điều 33 của Bộ luật này;
b) yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2 Điều 33 của Bộ luật này;
c) Tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 33 của Bộ luật này.
2. Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 33 của Bộ luật này mà Toà án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết.

4.2 Về hạn chế quyền của cha đối với con chưa thành niên

Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

Căn cứ theo quy định trên, chồng bạn không thuộc vào bất kỳ trường hợp nào theo quy định. Vì thế, chồng bạn không bị hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
>> Xem thêm: Ly hôn và đòi quyền nuôi con khi vợ bỏ đi không liên lạc ?

5. Điều kiện để giành quyền nuôi con khi ly hôn ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Vợ chồng anh trai tôi đang xảy ra tranh chấp giành quyền nuôi con. Mặc dù vợ anh tôi mới sinh cháu thứ 2 được 2 tuần nhưng đã thể hiện ý muốn ly dị với chồng.

Chị vợ về nhà ngoại ở cữ, anh tôi vẫn xuống phụ pha sữa cho con nhưng đều bị đuổi về. Anh tôi muốn làm trách nhiệm của người cha nhưng không được. Chị vợ dường như đã tính trước rồi nên toàn bộ giấy tờ liên quan như giấy kết hôn, giấy khai sinh của cháu lớn (28 tháng) đều lấy đi hết. Hiện tại anh tôi là nhân viên của công ty có hợp đồng lao động đầy đủ, có đầy đủ khả năng nuôi con, đồng thời ông bà nội rất thương cháu, luôn chăm sóc tốt cho cháu, trong khi chị vợ không có việc làm ổn định, nhà ngoại (ba chị ) có bệnh ho lao. Tôi muốn hỏi là giờ anh trai tôi muốn giành quyền nuôi 2 con có được không? Chân thành cảm ơn

Người gửi: N.N

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửu câu hỏi đến Công ty Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo quy định của pháp luật thì có hai cách giải quyết về quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi vợ chồng anh của bạn ly hôn như sau:

- Vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau để một người trực tiếp nuôi dưỡng con cái

- Trường hợp vợ chồng không thể thỏa thuận với nhau về việc nuôi dưỡng con thì anh của bạn có thể yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp về quyền nuôi con. Tòa sẽ xem xét đến các yếu tố phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tinh thần của con để lựa chọn người được quyền nuôi con. Theo khoản 3 điều 81 về nguyên tắc chị dâu bạn có quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Tuy nhiên không phải trong trường hợp nào người mẹ cũng có quyền nuôi con. Trong trường hợp người mẹ không có đủ điều kiện nuôi con ( điều kiện về vật chất : chỗ ở, công việc ổn định, tài sản... điều kiện về tinh thần : thời gian chăm sóc dạy dỗ, tình cảm dành cho con từ trước đến nay,...) thì Tòa án có thể xem xét đến việc lựa chọn cho người cha nuôi dưỡng con. Trong trường hợp của anh trai bạn, bạn có nói đến chị dâu bạn không có việc làm ổn định, nhà ngoại (ba chị ) có bệnh ho lao, đây là yếu tố quan trọng khiến không đảm bảo được sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tinh thần của con. Do đó anh của bạn có cơ hội giành nuôi con trong trường hợp này.

>> Xem ngay: Quyền nuôi con khi chưa có công việc ổn định được không ?

6. Tư vấn quyền nuôi con và chia tài sản khi ly hôn?

Thưa Luật sư, Tôi là Nguyễn Thị Thu T, hai vợ chồng tôi đang có mâu thuẫn vợ chồng và đang làm thủ tục ly hôn. Hiện chúng tôi có hai cháu: cháu lớn 12 tuổi, cháu nhỏ 9 tuổi.

Vậy khi ly hôn tôi có quyền nuôi cả hai cháu hay không? Tài sản của vợ chồng chúng tôi có: một ngôi nhà trước kia bố tôi đã tặng cho hai vợ chồng tôi, một shops quần áo của riêng tôi, một xưởng cưa đứng tên chồng do mẹ chồng tôi tặng cho. vậy khi ly hôn những tài sản trên có phải chia hay không?

Mong nhận được hồi âm từ phía Luật sư.

Kính chúc Luật sư sức khỏe.

Tư vấn quyền nuôi con và chia tài sản khi ly hôn?

Trả lời:

Chúng tôi rất tiếc với những mâu thuẫn vợ chồng bạn đang gặp phải. Trong trường hợp này thì vợ chồng bạn có thể thỏa thuận với nhau về người sẽ nuôi con sau khi ly hôn. Hiện bạn muốn giành quyền nuôi cả hai cháu/ Tuy nhiên cũng như những thông tin bạn đã cung cấp thì cháu lớn năm nay 12 tuổi, cháu nhỏ 9 tuổi. Vì vậy theo quy định của pháp luật thì phải xem xét đến nguyện vọng của hai cháu xem hai cháu muốn ở với bố hay ở với mẹ để Tòa án quyết định. Cụ thể theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Vì vậy bạn phải hỏi xem nguyện vọng của hai cháu như thế nào? Các cháu muốn ở với bạn hay với chồng bạn.

Về vấn đề chia tài sản như sau:

- Thứ nhất là ngôi nhà mà bố bạn tặng cho hai vợ chồng: Vì bạn không nói rõ là việc tặng cho được thực hiện như thế nào ? Có lập thành văn bản có công chứng, chứng thực và đã đi đăng ký hay chưa? Bởi theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 có quy định như sau:

Điều 467. Tặng cho bất động sản

1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

Như vậy nếu đã hoàn tất thủ tục tặng cho và có giấy chứng nhận thì sẽ là tài sản chung của vợ chồng và khi ly hôn sẽ được đem ra chia. Còn nếu trong trường hợp chỉ tặng cho bằng miệng và chưa có giấy chứng nhận thì vẫn thuộc sở hữu của bố bạn. Vì vậy khi ly hôn thì không xác định đây là tài sản chung của vợ chồng nên không được chia.

- Thứ hai: Shops quần áo riêng của bạn và một xưởng cưa đứng tên chồng do mẹ chồng bạn tặng cho chồng bạn. Theo quy định thì tài sản riêng của bên nào thì sau khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.Cụ thể Điều 59 Luật HNGĐ 2014 có quy định:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến1900.6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận luật sư hôn nhân gia đình - Công ty luật Minh Khuê