>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900 6162

Video tư vấn thủ tục ly hôn và quyền nuôi con- Ảnh minh họa

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi vào chuyên mục của cúng tôi, câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

1. Theo quy định ại các điều 11, 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Luật HN&GĐ), việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan đăng ký kết hôn thực hiện theo nghi thức, như sau: phải có mặt hai bên nam, nữ kết hôn; đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên. Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định này đều không có giá trị pháp lý. Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Mục 3 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, ngày 03/01/2001, hướng dẫn thi hành Nghị quyết 35/2000/QH10, ngày 09/06/2000 của Quốc hội “về việc thi hành Luật HN&GĐ quy định cụ thể về trường hợp chung sống như vợ chồng mà không đăng ký muốn chia tay như sau: đối với trường hợp nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 trở đi mà không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật HN&GĐ, họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu một trong các bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng.

2. Vấn đề nuôi con và chia tài sản chung trong trường hợp hai bên nam nữ sống chung không có đăng ký kết hôn, nay xin ly hôn áp dụng tương tự như trường hợp vợ chồng ly hôn (khoản 2, khoản 3 Điều 17 Luật HN&GĐ). Do đó, việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con (áp dụng theo Điều 92 Luật HN&GĐ): Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác.

Điều 10. Những trường hợp cấm kết hôn

Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:

1. Người đang có vợ hoặc có chồng;

2. Người mất năng lực hành vi dân sự;

3. Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

4. Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

5. Giữa những người cùng giới tính."

Dựa trên đây, chồng bạn vẫn được phép kết hôn với người khác.

 

Ý kiến bổ sung:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến mục hổi đáp của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

- Luật Hôn nhân và gia đình 2000;

- Nghị quyết 35/2000/QH10;

- Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP

Theo quy đinh tại điểm b khoản 2 Thông tư liên tịch 01/2001 thì

“b. Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ không được công nhận là vợ chồng; nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và áp dụng điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, bằng bản án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng; nếu họ có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản, thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết theo thủ tục chung.”

Theo thông tin bạn cung cấp thì hai người cưới nhau năm 2006 nhưng không đăng ký kết hôn. Do đó theo quy định trên thì trường hợp của bạn sẽ không được công nhận là vợ chồng. Khi có yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án sẽ ra bản án tuyên bố không công nhận hai người là vợ chồng. Việc yêu cầu nuôi con và chia tài sản sẽ áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000:

“2. Quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn.

3. Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con”.

 

Ý kiến bổ sung thứ hai:

Tôi xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Căn cứ pháp lý: điểm c khoản 3 nghị quyết  35/2000/NQ-QH10 về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình quy định “ Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết”.

Như vậy, do anh chị không được pháp luật công nhận là vợ chồng, nên chồng chị được phép đăng ký kết hôn và cưới người khác.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình - Công ty luật Minh Khuê