1. Không đăng ký kết hôn có phải ly hôn hôn tại tòa án không?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Hai vợ chồng tôi cưới nhau năm 2006 nhưng chưa đăng ký kết hôn, hai bên gia đình tổ có tổ chức đám cưới, đến năm 2008 thì có 01 đứa con chung. Năm 2010 thì 2 vợ chồng không sống chung nữa. năm 2013 Tôi có gởi đơn ra tòa giải quyết quyền nuôi con, trong thời gian chờ giải quyết thì chồng em có được phép đăng ký kết hơn và cưới người khác được hay không?
Người gửi: Huỳnh Nhi Võ Thị

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Video tư vấn thủ tục ly hôn và quyền nuôi con- Ảnh minh họa

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi vào chuyên mục của cúng tôi, câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

1. Theo quy định ại các điều 11, 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Luật HN&GĐ), việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan đăng ký kết hôn thực hiện theo nghi thức, như sau: phải có mặt hai bên nam, nữ kết hôn; đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên. Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định này đều không có giá trị pháp lý. Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Mục 3 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, ngày 03/01/2001, hướng dẫn thi hành Nghị quyết 35/2000/QH10, ngày 09/06/2000 của Quốc hội “về việc thi hành Luật HN&GĐ quy định cụ thể về trường hợp chung sống như vợ chồng mà không đăng ký muốn chia tay như sau: đối với trường hợp nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 trở đi mà không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật HN&GĐ, họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu một trong các bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng.

2. Vấn đề nuôi con và chia tài sản chung trong trường hợp hai bên nam nữ sống chung không có đăng ký kết hôn, nay xin ly hôn áp dụng tương tự như trường hợp vợ chồng ly hôn (khoản 2, khoản 3 Điều 17 Luật HN&GĐ). Do đó, việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con (áp dụng theo Điều 92 Luật HN&GĐ): Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác.

Điều 10. Những trường hợp cấm kết hôn

Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:

1. Người đang có vợ hoặc có chồng;

2. Người mất năng lực hành vi dân sự;

3. Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

4. Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

5. Giữa những người cùng giới tính."

Dựa trên đây, chồng bạn vẫn được phép kết hôn với người khác.

Ý kiến bổ sung:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến mục hổi đáp của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

- Luật Hôn nhân và gia đình 2000;

- Nghị quyết 35/2000/QH10;

- Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP

Theo quy đinh tại điểm b khoản 2 Thông tư liên tịch 01/2001 thì

“b. Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ không được công nhận là vợ chồng; nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và áp dụng điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, bằng bản án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng; nếu họ có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản, thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết theo thủ tục chung.”

Theo thông tin bạn cung cấp thì hai người cưới nhau năm 2006 nhưng không đăng ký kết hôn. Do đó theo quy định trên thì trường hợp của bạn sẽ không được công nhận là vợ chồng. Khi có yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án sẽ ra bản án tuyên bố không công nhận hai người là vợ chồng. Việc yêu cầu nuôi con và chia tài sản sẽ áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000:

“2. Quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn.

3. Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con”.

Ý kiến bổ sung thứ hai:

Tôi xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Căn cứ pháp lý: điểm c khoản 3 nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình quy định “ Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết”.

Như vậy, do anh chị không được pháp luật công nhận là vợ chồng, nên chồng chị được phép đăng ký kết hôn và cưới người khác.

Trân trọng./.

2. Có thể xin ly hôn ở nơi tạm trú được không ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Nếu giờ em ly hôn mà khi đăng ký kết hôn ở quê, mà giờ 2 người đi làm tạm trú ở tỉnh khác thì khi xin ly hôn mình có thể đến tòa án nơi mình tạm trú của tỉnh đó để xin ly hôn được không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!!
Người gửi: K.T

Có thể xin ly hôn ở nơi tạm trú được không ?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời như sau:

Điểm a, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ:

"a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;"

Điểm h Khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định về thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ như sau:

h) Toà án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

Đồng thời, Khoản 1 Điều 12 Luật cư trú năm 2006 quy định về nơi cư trú của công dân:

Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

Do đó, Tòa án nơi vợ chồng bạn đăng ký tạm trú có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của vợ chồng bạn. Vợ chồng bạn có thể nộp đơn tại Tòa án nhân dân quận/ huyện nơi đăng ký tạm trú để được giải quyết yêu cầu ly hôn.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã lựa chọn công ty Luật Minh Khuê!

Trân trọng./.

3. Thủ tục để giải quyết việc ly hôn như thế nào?

Thưa luật sư, tôi và chồng muốn làm đơn ly hôn. Vì hoàn cảnh gia đình nhà tôi không khá giả như nhà chồng, mẹ chồng tôi lúc nào cũng bắt vợ chồng tôi ly hôn dù cho hai vợ chồng tôi không muốn. Tôi và chồng đã có hai con chung, vậy phải làm sao để giải quyết việc ly hôn?

Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: MNHL

Tư vấn giải quyết ly hôn

Tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình, gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:

Do cả bạn và chồng đều muốn làm đơn ly hôn vì vậy trường hợp của bạn là thuận tình ly hôn. Trước tiên bạn có thể download mẫu đơn thuận tình ly hôn tại đây: Mẫu đơn thuận tình ly hôn.

Về thủ tục:

* Chuẩn bị hồ sơ: hồ sơ thuận tình ly hôn bao gồm những giấy tờ sau:

- Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn (theo mẫu của Tòa án nhân dân cấp huyện).

- Bản chính giấy chứng nhận đăng kí kết hôn của hai vợ chồng.

- Bản sao chứng thực giấy chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu của 2 vợ chồng.

- Bản sao chứng thực giấy khai sinh của con chung (nếu có).

- Bản sao chứng thực giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản chung của 2 vợ chồng: như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng kí xe,…

* Gửi hồ sơ đến Tòa án cấp huyện:

Sau khi bạn hoặc chồng gửi hồ sơ xin ly hôn đến Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng đang cư trú. Trong thời hạn 5 ngày làm việc Tòa án sẽ kiểm tra đơn và gửi đến nguyên đơn thông báo nộp tạm ứng án phí.

Sau khi nhận được thông báo tạm ứng án phí, nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án.

Trong thời hạn 15 ngày làm việc Tòa án tiến hành mở phiên hòa giải. Nếu hòa giải không thành, xét thấy 2 bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

Trong thời 7 ngày làm việc từ ngày hòa giải không thành (không thay đổi quyết định về việc ly hôn), nếu các bên không thay đổi ý kiến Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi! Trân trọng ./.

4. Không đóng trợ cấp nuôi con khi ly hôn có được không ?

Thưa Luật sư, em muốn hỏi về trợ cấp nuôi con khi ly hôn: Em muốn hỏi là vợ em đã bỏ nhà đi, em muốn làm đơn ly hôn nhưng cô ấy không ta tòa, không trợ cấp tiền nuôi con thì có bị làm sao không? Vợ em có công việc ổn định, liệu pháp luật có bắt vợ em trợ cấp tiền nuôi con được không?
Xin chân thành cảm ơn !

Không đóng trợ cấp nuôi con khi ly hôn có được không?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới Luật Minh Khuê. Với yêu cầu này, Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

Thứ nhất, vợ bạn không đến tham gia phiên tòa xét xử có được không?

Ly hôn đơn phương là chỉ có một bên vợ hoặc chồng đồng ý ly hôn, tự nguyện ký vào Đơn xin ly hôn. Đơn xin ly hôn phải có xác nhận của UBND cấp phường về nguyên nhân ly hôn, mâu thuẫn vợ chồng. Trước khi xác nhận, tổ hòa giải ở cấp phường sẽ tiến hành hòa giải 3 lần. Theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, tòa án khi tiếp nhận đơn xin ly hôn đơn phương sẽ tiến hành hòa giải tại tòa. Nếu Toà án triệu tập đương sự đến hoà giải mà một trong các đương sự không đến, dẫn đến không hoà giải được thì Toà sẽ lập biên bản không hoà giải được. Khi đó, tòa án sẽ tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 quy định về sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:

Điều 199. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Toà án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên toà.

2. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên toà, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

b) Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Toà án quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.”

Đối với trường hợp của bạn, trong trường hợp Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vợ bạn không đến thì Toà tiếp tục triệu tập lần thứ 2, khi triệu tập lần thứ 2 mà vẫn không đến và cũng không có lý do chính đáng thì Toà sẽ đưa vụ án ra xử vắng mặt vợ bạn dựa trên các tài liệu, chứng cứ đã có.

Thứ hai, vợ bạn không trợ cấp tiền nuôi con có được không?

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Theo quy định trên, khi ly hôn, vợ chồng có thể thỏa thuận người sẽ trực tiếp nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định. Khi đó, Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, học hành của con cũng như xem xét nguyện vọng của con muốn được sống với ai để quyết định việc trao quyền nuôi con cho vợ hoặc chồng. Về nguyên tắc con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho mẹ nuôi dưỡng, con từ đủ 7 tuổi sẽ phải xem xét nguyện vọng của con.

Khi đó, nếu bạn muốn được quyền nuôi con thì bạn cần đưa ra chứng cứ chứng minh với tòa án rằng bạn có điều kiện tốt hơn vợ về mọi mặt để nuôi con phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần chẳng hạn như bạn có việc làm ổn định, thu nhập tốt, sức khỏe tốt hơn, việc bạn chăm sóc, giáo dục con bạn từ trước đến nay rất tốt cũng như đưa ra chứng cứ chứng minh những điều bất lợi khi cho con ở với mẹ.

Điều 82 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ, quyền của cha mẹ khi không trực tiếp nuôi con khi ly hôn:

“1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”

Như vậy, sau khi ly hôn bên không trực tiếp nuôi có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trừ trường hợp cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Tuy nhiên, điều 110 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con như sau:

“Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Theo quy định trên, nếu con bạn đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình thì vợ bạn không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho đứa con nữa. Còn nếu con bạn chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì vợ bạn có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho người con.

Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại điều 119 luật hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 119. Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.”

Như vậy, trong trường hợp vợ bạn không cấp dưỡng cho con thì bạn có quyền yêu cầu Tòa án buộc vợ bạn phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Trên đây là nội dung tư vấn từ phía Công ty chúng tôi cho thắc mắc của Quý khách hàng. Nếu còn vấn đề nào chưa được rõ, vui lòng liên hệ trực tiếp tới Công ty qua tổng đài 1900.6162 để được tư vấn và hỗ trợ một cách chi tiết.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân gia đình - Công ty luật Minh KHuê