Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900 6162

Tôi chào luật sư! Tôi và chồng tôi chung sống với nhau đến nay đã có vói nhau 2 người con. Bây giờ chúng tôi bất đồng quan điểm, cảm thấy không thể chung sống với nhau được nữa nên muốn ly hôn. Tuy nhiên chúng tôi chưa đăng ký kết hôn thì bây giờ chúng tôi phải làm thế nào? Cảm ơn luật sư.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân gia đình 2014

Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội "Về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình"

2. Luật sư tư vấn:

Theo như bạn trình bày là hai bạn chưa có đăng ký kết hôn nên trong trường hợp này hai bạn được coi là chung sống như vợ chồng. Do bạn không ghi rõ thời gian cụ thể mà hai bạn kết hôn là khi nào nên chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn theo hai trường hợp.

Nam và nữ được coi là chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;

- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;

- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;

- Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

Trường hợp 1: Chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987

Theo quy định của pháp luật, nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà không đăng ký kết hôn thì vẫn được coi là vợ chồng. Do đó việc ly hôn sẽ được giải quyết theo thủ tục ly hôn thông thường theo quy định của pháp luật.

Trường hợp 2: Chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn mà chưa đăng ký kết hôn và đang chung với nhau như vợ chồng thì họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003. Ở đây cũng có hai trường hợp xảy ra:

- Kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003 nếu họ chưa đăng ký kết hôn hoặc đã đăng ký kết hôn mà họ có yêu cầu ly hôn thì vụ án ly hôn này sẽ được giải quyết theo thủ tục chung theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình.

- Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì họ không được công nhận là vợ chồng, nếu một trong hai bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và giải quyết bằng bản án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng.

Trường hợp 3: Nam nữ chung sống như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 mà không đăng ký kết hôn

Trong trường hợp này họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu một trong các bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và giải quyết và tuyên bố họ không được công nhận là vợ chồng.

Trong những trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà tòa án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng khi họ có yêu cầu ly hôn thì vấn đề tài sản và quyền nuôi con sẽ do hai bên thỏa thuận, nếu như các bên không thỏa thuận được thì sẽ áp dụng Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

"1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

2. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.

3. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này."

Về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê