Đến nay khi quyết định li hôn thì em có hỏi đến 2 tài sản đó. Nhưng mẹ chồng em nói chiếc xe mặc dù đứng tên em nhưng là tài sản do bố mẹ chồng em mua nên em không có quyền lấy vì bố mẹ chồng em chưa viết giấy chuyển nhượng. Vì vậy chiếc xe đó bố mẹ chồng em vẫn giữ còn giấy tờ xe thì em cầm. Còn 2,5 cây vàng thì bố mẹ chồng em cho vợ chồng em đi tuần trăng mật là 5 triệu và tiền bảo vệ luận văn là 12 triệu nên cũng hết rồi. Nhưng theo như lúc trước đó chưa xảy ra mâu thuẫn thì tiền đi tuần trăng mật mà bố mẹ chồng em cho là tiền riêng không liên quan tới vàng của chúng em, còn 12 triệu bảo vệ luận văn là chồng em vay mẹ chồng em rồi chúng em đã trả rồi. Trong quá trình chung sống vợ chồng em cũng tích cóp được 10 triệu là tiền lương của vợ chồng em chi tiêu còn lại. Số tiền này em đang giữ. Qua sự việc như vậy.

Em muốn hỏi luật sư là: em có quyền được nhận tài sản nào trong 3 tài sản trên không? Việc nhận tài sản đó như thế nào? Sau khi li hôn em có được bồi thường chi phí ở và làm việc cho nhà chồng không? Em xin hỏi thêm, về chiếc xe máy mang tên em, em vẫn đang giữ giấy tờ xe. Còn chiếc xe đó vẫn để ở nhà chồng em. Liệu nhà chồng e có báo với cơ quan là mất giấy tờ xe để làm lại giấy tờ xe mang tên nhà chồng em không? Vì chồng em vẫn giữ chứng minh thư photo của em và chụp ảnh chứng minh thư gốc của em rồi ạ.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hôn nhân Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư hôn nhân gọi: 1900 6162

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội

Nội dung phân tích:

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

Điều 33.Tài sản chung của vợ chồng:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung:

1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.

Như vậy, theo quy định thi tài sản chung của vợ chồng bạn là số tài sản được hình thành sau thời kỳ hôn nhân, gồm: 2,5 cây vàng là quà được tặng cho khi cưới và 10 triệu đồng tiền lương của vợ chồng.

Về chiếc xe máy, là tài sản được hình thành sau thời kỳ hôn nhân, nếu bạn chứng mình được là của bố mẹ chồng tặng cho riêng bạn thì đó là tài sản của bạn nhưng nếu không chứng minh được thì được hiểu là tài sản bố mẹ cho riêng hai vợ chồng và cũng được coi là tài sản chung của vợ chồng, việc bạn đứng tên đăng ký xe không thể chứng minh được đó là tài sản của riêng bạn.

Về chia tài sản chung sau khi ly hôn, Điều 59 Luật này cũng quy định về Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Khi đưa ra Toà, nếu hai bên không tự thỏa thuận được thì Tòa án sẽ căn cứ vào lời khai và sự chứng minh của hai bên để xác định tài sản chung, đồng thời căn cứ vào quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi bên để chia tài sản chung. Thông thường, tài sản chung sẽ được chia đôi. Và khi ly hôn thì bạn không được bồi thường chi phí ở và làm việc cho nhà chồng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hôn nhân.