1. Những thắc mắc về vấn đề ly hôn đơn phương?

Thưa luật sư, Tôi muốn đơn phương ly hôn do vợ chồng không hợp nhau và chênh lệch về tuổi tác vậy tôi cần làm những thủ tục gì để có thể sớm ly hôn khi vợ tôi không chịu ký đơn ? Tôi phải làm sao ?
Mong luật sư tư vấn giúp. Trân trọng cảm ơn!

Tư vấn ly hôn: Ai được quyền nuôi con - Cafe sáng VTV3

Luật sư trả lời:

Do bạn không cung cấp thông tin cụ thể nên có một số vấn đề đáng chú ý liên quan đến ly hôn như sau:

Thứ nhất, Quyền ly hôn:

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 việc giải quyết thủ tục ly hôn có thể tiến hành theo 2 hướng:

1/ Thuận tình ly hôn: cả hai cùng đồng ý ly hôn và cùng ký tên trên đơn và thỏa thuận được các vấn đề về quyền nuôi con sau khi ly hôn và phân chia tài sản không còn tranh chấp gì.

2/ Đơn phương ly hôn (Yêu cầu ly hôn từ 1 phía): Trường hợp 1 bên vợ hoặc chồng không đồng ý ly hôn thì có thể giải quyết theo hướng đơn phương ly hôn

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn."
"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

Thứ hai, Mức án phí ly hôn:

Theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 mức án phí ly hôn là 300.000 đồng đối với trường hợp giải quyết ly hôn không có tranh chấp chia tài sản. Đối với trường hợp có tranh chấp về tài sản thì mức án phí được tính theo giá trị tài sản tranh chấp tính theo quy định tại bảng dưới đây.

Stt

Tên án phí

Mức thu

II

Án phí dân sự

1

Án phí dân sự sơ thẩm

1.1

Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động không có giá ngạch

300.000 đồng

1.2

Đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại không có giá ngạch

3.000.000 đồng

1.3

Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình có giá ngạch

a

Từ 6.000.000 đồng trở xuống

300.000 đồng

b

Từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c

Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000. 000 đồng + 4% của phầngiá trị tài sản có tranh chấp vượtquá 400.000.000 đồng

d

Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800.000.000 đồng

đ

Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 2.000.000.000 đồng

e

Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt 4.000.000.000 đồng.

Thứ ba, vấn đề con chung:

Vấn đề con chung được giải quyết theo quy định tại Điều 81, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi và con từ 3 tuổi trở lên vợ chồng thỏa thuận còn nếu không thể thỏa thuận tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Thứ tư, vấn đề tài sản chung:

Tài sản chung của vợ chồng được hiểu là tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung".

Như vậy: Như vậy trong trường hợp bạn muốn ly hôn mà vợ không chịu ký đơn thì có thể chuyển sang hướng đơn phương ly hôn, tuy nhiên việc giải quyết thủ tục ly hôn đơn phương phải thỏa mãn theo quy định tại Điều 57, luật Hôn nhân và gia đình 2014, người chồng sẽ không được đơn phương ly hôn khi người vợ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trường hợp đơn phương ly hôn thì không cần vợ phải ký vào đơn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Điều kiện giành quyền nuôi hai con chung khi ly hôn ?

2. Có được thừa kế tài sản khi ly hôn ?

Chào luật sư công ty luật Minh Khuê. Tôi có vấn đề mong được luật sư tư vấn. Bà nội tôi đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bố mẹ tôi thì đã ly hôn. Bà tôi tuy còn sống nhưng đã để lại di chúc cho mẹ tôi toàn bộ số đất của bà. Vậy mẹ tôi có quyền yêu cầu chia tài sản của bà đã di chúc cho mẹ tôi ngay không ?
Chân thành cảm ơn luật sư.

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Khuê. Với thắc mắc của bạn, Công ty Luật Minh Khuê xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Như bạn trình bày, bà nội bạn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đồng thời được hiểu đây là tài sản riêng của bà nội bạn. Cần xác định rõ đây là tài sản riêng của bà nội bạn hay tài sản chung ông bà nội bạn.

Nếu đây là tài sản chung của ông bà bạn: Căn cứ Điều 223 Bộ luật dân sự 2005 , bà nội của bạn chỉ có quyền định đoạt đối với phần tài sản của mình, không được định đoạt toàn bộ tài sản trong khối tài sản chung:

"1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật."

Do đó, trong di chúc bà nội bạn định đoạt toàn bộ tài sản cho bố mẹ bạn là không có căn cứ và di chúc này sẽ không có hiệu lực pháp luật.

Nếu đây là tài sản riêng của bà nội bạn, thì bà nội bạn có quyền định đoạt tài sản này. Di chúc được coi là hợp pháp khi có các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 652 Bộ luật dân sự 2005 :

"1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật."

Điểm c) Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013 quy định:

"3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;"

Như vậy, di chúc của bà nội bạn phải đảm bảo các điều kiện trên thì mới hợp pháp.

Như bạn trình bày, hiện nay bà nội bạn vẫn còn sống. Căn cứ Khoản 1 Điều 667 Bộ luật dân sự 2005 quy định hiệu lực pháp luật của di chúc như sau: "1. Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế."

Điều 633 Bộ luật dân sự 2005 quy định hời điểm, địa điểm mở thừa kế như sau:

"1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này."

Như vậy, theo quy định di chúc chỉ có hiệu lực pháp luật khi người để lại di chúc mất. Nếu hiện nay bà nội bạn còn sống thì di chúc không có hiệu lực pháp luật, do đó mẹ bạn sẽ không được hưởng 1/2 khối tài sản này như nội dung di chúc đã định đoạt.

Bố mẹ bạn ly hôn, giấy tờ đất đai đứng tên bà nội bạn, mẹ bạn không có quyền yêu cầu chia tài sản này. Mẹ bạn chỉ có quyền yêu cầu Tòa án xác định công sức đóng góp của mẹ bạn trong khối tài sản này.

3. Có phải bồi thường tiền cho nhà chồng khi vừa kết hôn đã ly hôn hay không ?

Thưa luật sư, Xin hỏi cháu vừa lấy chồng nhưng nhận thấy không có tình yêu nên muốn ly hôn ngay. Vậy xin hỏi: Có phải bồi thường tiền cho nhà chồng khi vừa kết hôn đã ly hôn hay không ?
Cảm ơn luật sư.

Luật sư tư vấn:

- Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắcbệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ đượchành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

>> Như vậy, khi tình trạng cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn thì chị bạn có thể đơn phương gửi đơn yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn của mình.

Về vấn đề có phải bồi thường hay không? : Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 khi hai bên tiến hành ly hôn thì không có quy định người nào phải có nghĩa vụ phải bồi thường khi ly hôn mà chỉ quy định về việc phân chia tài sản của hai vợ chồng. Vì thế, bạn không phải bồi thường gì khi ly hôn.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thủ tục giải quyết ly hôn theo quy định của pháp luật

4. Chưa ly hôn chồng có được tự ý mang con đi không?

Luật sư tư vấn:

Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định bảo vệ quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con như sau:

"1. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định tại Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan được tôn trọng và bảo vệ.

2. Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình được quy định tại Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

3. Giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con được quy định tại Luật này, Luật nuôi con nuôi, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

4. Mọi thỏa thuận của cha mẹ, con liên quan đến quan hệ nhân thân, tài sản không được làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.”

Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng:

"1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.”

Theo quy định của pháp luật thì quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con theo quy định được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, cha mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con, cùng chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động, tài sản để nuôi bản thân.

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn và chồng bạn có một con chung 16 tháng tuổi, do mâu thuẫn, chồng bạn dọa sẽ bế con bạn đi, hành vi tự ý đưa con đi mà không có sự thỏa thuận của bạn là hành vi trái pháp luật, cản trở quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bạn. Nếu chồng bạn có hành vi này, bạn có thể liên hệ trực tiếp với các cơ quan, đoàn thể, ban ngành địa phương để can thiệp, xử lý.

Hành vi này sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 53 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

“Điều 53. Hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.”

Trân trọng ./.

5. Chưa ly hôn nhưng muốn kết hôn với người khác có được không?

Luật sư tư vấn:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn chỉ nói có mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân. Do đó, vẫn chưa xác định rõ rằng việc kết hôn giữa bạn và vợ bạn đã đăng ký kết hôn hay chưa? nên cũng không thể tư vấn rõ ràng cho bạn điều kiện và thủ tục để bạn có thể kết hôn với người mới được. Chính vì vậy, vụ việc của bạn có thể giải quyết theo các trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, bạn và vợ bạn có đăng ký kết hôn hợp pháp, đúng theo quy định của pháp luật. Tức là, hai bạn có đi đăng ký kết hôn. Trong trường hợp này, nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình là kết hôn một vợ một chồng, pháp luật Việt Nam không cho phép hôn nhân đa thê, không cho phép một người lấy nhiều vợ hoặc nhiều chồng cùng một lúc. Vì vậy, do mâu thuẫn hôn nhân không thể giải quyết được mà bạn lại muốn kết hôn với người khác. Theo đó, bạn chỉ được kết hôn với người khác khi bạn đã chấm dứt cuộc hôn nhân với vợ mình. Có nghĩa bạn phải ly hôn với người vợ trước sau đó mới được kết hôn với người khác. Bạn hoàn toàn có quyền kết hôn với người khác khi và chỉ khi bạn đã ly hôn với vợ của mình. Thủ tục của việc ly hôn theo thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 cụ thể như sau:

Do hiện nay vợ bạn đã bỏ đi 1 năm mà không có tin tức gì, bạn có thể yêu cầu đơn phương ly hôn khi vợ mình không có mặt để thỏa thuận việc ly hôn (theo khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014). Bạn có thể nộp đơn yêu cầu ly hôn tới Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn cư trú/có hộ khẩu thường trú/nơi hai vợ chồng cùng sinh sống.

Đối với thủ tục xin ly hôn đơn phương thì bạn cần làm những bước sau:

Một là, bạn nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND cấp quận/huyện nơi cư trú.

Hai là, sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán sẽ ra thông báo ngay cho bạn để bạn đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp bạn phải nộp tiền tạm ứng án phí.Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, bạn phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

Ba là, bạn phải chờ một khoảng thời gian nhất định thì mới hoàn thành việc ly hôn của mình được, cụ thể là thời hạn chuẩn bị xét xử: 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án hoặc có thể lâu hơn; thời hạn mở phiên tòa: từ 01 đến 02 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Ngoài ra, trước khi nộp hồ sơ ly hôn thì bạn phải qua thủ tục hòa giải tại cơ sở (ủy ban nhân dân cấp xã/ phường).

Trường hợp thứ hai, vợ chồng bạn không có đăng ký kết hôn. Theo đó, khi bạn muốn kết hôn với người mới thì chỉ cần nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn cư trú để giải quyết theo khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

Theo đó, bạn và vợ bạn sẽ không được công nhận có quan hệ vợ chồng, khi đó bạn có thể kết hôn với người mới. Thủ tục để yêu cầu Tòa án giải quyết giống như trường hợp thứ nhất.

Như vậy, tùy vào trường hợp nào thì bạn có thể nộp yêu cầu để tòa án giải quyết ly hôn/không công nhận quan hệ vợ chồng giữa hai người.

6. Đơn ly hôn không có chữ ký của chồng có được không?

Luật sư tư vấn:

Tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn."

Bên cạnh đó tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về ly hôn theo yêu cầu của một bên quy định:

"1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy trong trường hợp của bạn, nếu chồng bạn không đồng ý ly hôn thì bạn có thể làm đơn yêu cầu ly hôn nộp lên Tòa án nhân dân nơi chồng bạn cư trú. Sau khi nhận được đơn của bạn,Tòa sẽ thụ lý đơn và tiến hành hòa giải theo quy định của pháp Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 . Sau khi hòa giải không thành, bạn có thể tiếp tục làm đơn xin đơn phương ly hôn và nộp lên Tòa án nhân dân nơi chồng bạn cư trú.Tuy nhiên bạn phải có chứng cứ để chứng minh được chồng bạn có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ,chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được hoặc chồng bạn bị tòa án tuyên bố mất tích.

Bạn có thể xin đơn phương ly hôn với trình tự thủ tục như sau:

- Làm hồ sơ đơn phương ly hôn bao gồm :

+ Đơn xin ly hôn (theo mẫu của tòa án)

+ Sổ hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ chồng (bản sao có chứng thực)

+ Chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu của vợ chồng (bản sao có chứng thực)

+ Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực)

+ Các giấy tờ về chứng minh tài sản (bản sao có chứng thực)

Sau đó bạn nộp trực tiếp hồ sơ xin ly hôn lên Tòa án nơi chồng bạn cư trú hoặc qua đường bưu điện. Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn xin ly hôn, Tòa án sẽ tiến hành thụ lý và thông báo cho bạn nộp tiền tạm ứng án phí bằng văn bản. Sau khi bạn nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, Tòa án sẽ thụ lý án cho bạn.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty Luật Minh Khuê