1. Ly hôn, giải quyết về tranh chấp về quyền nuôi con như thế nào ?

Xin chào luật sư ạ! Luật sư cho tôi hỏi 2 vợ chồng em chú tôi đã li hôn, chúng tôi không biết tòa xử ai sẽ là người nuôi con, cháu mới được 2 tuổi, tòa có giấy cho 2 người, em dâu tôi đã lấy giấy, e chú không lấy, giờ 2 ông bà nội phải nuôi, vậy luật sư cho tôi hỏi giờ phải làm thế nào ạ?
Cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Căn cứ quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

" Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con"

Như vậy, theo quy định trên, cháu bé được 2 tuổi do đó người nuôi con trực tiếp là người mẹ. Nếu như người mẹ không đủ điều kiện nuôi con thì cha có quyền nuôi con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác thì tuân theo việc thỏa thuận của cha mẹ.

Thưa luật sư. Trong trường hợp li hôn chồng là người đứng tên vay vốn ngân hàng.người vợ có trách nhiệm phải trả 1 nửa số tiền vay vốn đó không ạ ? và trước khi ra tòa xét xử phải hoàn trả ngân hàng tại xã mới được xét xử không ạ ? tôi muốn hỏi thêm là nếu chồng đứng tên vay vốn mà vợ phải trả 1 nửa thì trong thời gian chung sống đó người vợ cũng vay người thân bên nội 10triệu thì tiền vay đó người vợ phải tự trả ạ ?

Căn cứ quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

" Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Điều 44. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ."

- Câu trả lời thứ nhất: nếu việc vay vốn ngân hàng là ý chí của riêng người chồng mà không có sự đồng ý hay có sự tham gia của người vợ thì ở đây nghĩa vụ phát sinh là trả tiền vay vốn sẽ do người chồng tự thực hiện. Còn trường hợp nếu chồng chỉ là người đại diện đứng tên trong việc vay vốn mà có sự tham gia của vợ thì việc trả nợ này cả vợ và chồng phải cùng thực hiện.

- Câu trả lời thứ hai: Nếu như việc vay vốn là nghĩa vụ chung của cả vợ và chồng thì khi ly hôn hai bên phải tiến hành thanh toán hết số tiền vay này cho bên ngân hàng hoặc hai bên thỏa thuận với bên ngân hàng việc ai sẽ là người chịu thanh toán tiền sau khi ly hôn. Vấn đề trả tiền này không có sự liên quan đến xã ở đây. Nếu hai bên không thỏa thuận được việc chia tài sản và thực hiện nghĩa vụ thì yêu cầu tòa giải quyết.

- Câu trả lời thứ ba: Vấn đề người vợ vay 10 triệu bên nhà nội thì phải căn cứ xem có sự đồng ý của chồng không? mục đích sử dụng của 10 triệu đó vào việc chi tiêu gia đình hay cá nhân người vợ. Nếu là có sự đồng ý của chồng, chi tiêu gia đình thì cả hai bên phải cùng trả số nợ đó.

Tư vấn ly hôn: Ai được quyền nuôi con - Cafe sáng VTV3

Thưa luật sư, Tôi muốn ly hôn thì phải gửi đơn ở xã(nơi đăng ký kết hôn) hay ở tòa án nhân dân huyện ?

Căn cứ quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

" Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi".

Như vậy, thẩm quyền giải quyết ly hôn là Tòa án.

Luật sư cho cháu hỏi câu hỏi tình huống sau với ạ. Năm 1990, ông A được cơ quan phân 1 căn hộ trên phần diện tích đất 32m2. Năm 1992 ông kết hôn cùng bà B và sinh được một người con trai là anh C. Năm 2000, ông A, bà B li hôn , năm 2002 ông A lấy vợ 2 là B’( không có con chung) sau đó cả 2 vợ chồng cùng xây dựng một ngôi nhà trị giá 1 tỷ đồng trên phần đất này. Đến thời điểm này về giấy tờ nhà đất hiện chỉ có quyết định giao nhà, đất của cơ quan ông A trước đây ( năm 1990). Đến năm 2008 ông A tặng cho con là anh C nhà đất nói trên với điều kiện anh C phải phụng dưỡng ông A và bà B. 1. Năm 2008, ông A chưa có giấy chứng nhận vậy quan hệ tặng cho nhà đất giữa ông A và anh C có hợp pháp không? Hãy phân tích làm rõ quan hệ tặng cho này? 2. Anh C nếu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, giả sử nay ông A, bà B’ muốn đòi lại nhà , đất nói trên được không? Tại sao? vì mới học luật đất đai nên cháu chưa rõ.cháu cảm ơn luật sư

- Câu trả lời thứ nhất:

Căn cứ vào Điều 66 Nghị định 84/2007/NĐ-CP có quy định:

"1. Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2008, người sử dụng đất phải có Giấy chứng nhận mới được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Trường hợp trước ngày 01 tháng 11 năm 2007 người sử dụng đất đã nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận theo đúng quy định của pháp luật mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận và người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì vẫn được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất".

Như vậy, thời điểm trước ngày 01/01/2008 thì đất đai chưa có sổ đỏ vẫn có thể được chuyển nhượng. Kể từ sau ngày 01/01/2008 thì người sử dụng đất phải có giấy chứng nhận quyền sử đụng đất mới được chuyển nhượng. Do đó, Trường hợp này ông A tặng cho nhà đất của mình cho ông C là không hợp pháp. Để có thể được tặng cho hợp pháp thì ông A phải xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.

- Câu trả lời thứ hai: Trong trường hợp trên anh C không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nếu anh C được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất thì Ông A và bà B' vẫn có quyền đòi lại nhà nói trên được. Bởi vì việc tặng cho này là không đúng với quy định của pháp luật theo nghị định 84/2007/NĐ-CP nêu trên.

Thưa luật sư, xin hỏi: Chồng em trước dây đã có 1 đời vợ nhưng ly hôn nam 2008 .tui em quen nhau nam 2013 và cưới nhưng về ở với nhau mấy tháng rồi lại phần ai náy sống .nhưng từ đó tới nay cứ đay dưa k bỏ .cứ sống với nhau 1 thời gian lại có chuyện ông lại bỏ đi được 10 ngày hay 1 tháng lại về xin lỗi và mọi chuyện cứ thế lập đi lập lại .nhưng đến hôm nay em phát hiện ông có bồ (do cô bồ dọn về ở cạnh nhà em) .và em đã qua gap và nói chuyện mới biết chồng em nói đã li di rồi và dùng cái giấy xác nhận của người vợ trước đưa cho chị đó coi và làm bang chứng là đã ly di vợ rồi . Giờ luận sư cho em hỏi như thế là sao chãng lẽ cái giấy đó vẫn dùng để đang ký lần nữa được ? Còn tờ đơn dang ký với em thì sao ?

Trường hợp này, việc chồng chị sử dụng giấy ly hôn với người vợ thứ nhất để chứng minh với cô bồ là không có giá trị, bên cạnh đó, việc chồng chị đang có quan hệ hôn nhân với trị nhưng lại đi sống cùng nhà với cô bồ là hành vi vi phạm quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Do đó, dù hai bên có sống chung cũng không phát sinh quan hệ vợ chồng. Quan hệ vợ chồng của chị và chồng trên giấy đăng ký kết hôn mới là hợp pháp.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay: Tranh chấp quyền nuôi con khi chưa đăng ký kết hôn?

2. Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình: tài sản, quyền nuôi con... ?

Luật sư cho cháu hỏi...nếu bác trai cháu muốn uỷ quyền cho bác gái để làm thủ tục xác nhập tài sản riêng của bác trai vào tài sản chung của hai vợ chồng thì có được không ạ, và thủ tục thế nào ạ, có cần phải đi từng cấp từ địa phương lên không hay làm trực tiếp ở huyện luôn ạ..tài sản riêng của bác trai là mảnh đất vườn do bà cho bác trai trước khi lấy bác gái ấy ạ... Nhờ luật sư trả lời mail giúp cháu vì cháu ko có thời gian gọi trực tiếp ạ.. ?
Cảm ơn luật sư nhiều!

Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình: tài sản, quyền nuôi con... ?

Trả lời:

Luật Minh Khuê tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình và những vấn đề pháp lý phát sinh liên quan:

Điều 46 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

"Điều 46. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung
1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.
2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.
3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác."

Điều 144 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 quy định:

"Điều 144. Phạm vi đại diện

1. Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập theo sự ủy quyền.

3. Người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

4. Người đại diện phải thông báo cho người thứ ba trong giao dịch dân sự biết về phạm vi đại diện của mình.

5. Người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì bác trai của bạn phải trực tiếp hoặc ủy quyền cho một người khác (không phải là bác gái bạn) làm thủ tục nhập tài sản riêng của chồng vào tài sản chung của hai vợ chồng.

tôi có mảnh đất nhỏ ở quê mang tên tôi từ 1995 năm 2003 tôi lấy chồng ,năm 2013 chồng tôi mất hiện nay mảnh đất đó tôi muốn tặng chị gái của mình thì thủ tục như thế nào ?

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn có quyền sử dụng đất từ năm 1995. Đến năm 2003 bạn lấy chồng, tuy nhiên bạn lại không nói rõ bạn có thỏa thuận với chồng về chế độ tài sản của vợ chồng bạn hay không. Do đó, trong trường hợp này chúng tôi xin trao đổi với bạn như sau:

- Nếu bạn không có thỏa thuận với chồng về xác lập chế độ tài sản của hai vợ chồng thì quyền sử dụng đất từ năm 1993 là tài sản riêng của bạn. Do đó, tài sản này bạn muốn tặng cho chị gái thì đó là quyền của bạn, không ai có quyền ngăn cấm, cụ thể Điều 164 và Điều 197 Bộ luật Dân sự quy định:

"Điều 164. Quyền sở hữu

Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản.

....

Điều 197. Quyền định đoạt của chủ sở hữu

Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản."

- Nếu bạn có thỏa thuận với chồng về xác lập chế độ tài sản của hai vợ chồng là tài sản chung thì quyền sử dụng đất từ năm 1993 là tài sản chung của vợ chồng bạn. Do đó, khi chồng bạn mất đi thì tài sản chung này sẽ được chia đôi: một nửa của chồng bạn, một nửa của bạn. Phần tài sản của chồng bạn sẽ được chia thừa kế cho các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất, cụ thể Điểm a Khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự quy định:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;.."

Sau khi chia thừa kế xong bạn mới có quyền tặng cho chị gái phần quyền sử dụng đất của mình.

Xin chào.. hiện e muốn xin giấy chứng nhận độc thân , để kết hôn bên malaysia. Thì thủ tục làm như nào?

Hồ sơ và thủ tục xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được quy định cụ thể như sau:

Khoản 2 Điều 9 Luật số 60/2014/QH13 của Quốc hội : LUẬT HỘ TỊCH quy định:

"2. Khi làm thủ tục đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch, cá nhân xuất trình giấy tờ chứng minh nhân thân cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính thì phải gửi kèm theo bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh nhân thân."

Và Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định:

"Điều 22. Thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
1. Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định. Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
2. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định này thì nộp bản sao trích lục hộ tịch tương ứng.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu. Nếu người yêu cầu có đủ điều kiện, việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký cấp 01 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người có yêu cầu. Nội dung Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi đúng tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu và mục đích sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
4. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã được yêu cầu tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu về tình trạng hôn nhân của người đó trong thời gian thường trú tại địa phương.
5. Ngay trong ngày nhận được văn bản trả lời, nếu thấy đủ cơ sở, Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người yêu cầu theo quy định tại Khoản 3 Điều này.
6. Trường hợp cá nhân yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác hoặc do Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã hết thời hạn sử dụng theo quy định tại Điều 23 của Nghị định này, thì phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó."

Thưa luật sư, Tôi lấy chồng được 1 năm. Hiện tôi đang mang thai 3 tháng. Chồng tôi nghi ngờ cái thai không phải con của a và việc đơn ly dị tôi. Tôi rất buồn nên đã ký đơn ly dị và cũng không cần anh ấy nhận con. Tôi muốn tự mình nuôi con thì phải làm những thủ tục gì. Nếu sau này tôi làm xét nghiệm ADN đúng là con của chồng tôi thì chồng tôi có được nhận con không. Nếu ra tòa án thì anh ấy có bị kết tội vu khống không vì anh ấy đã nghi ngờ không có căn cứ. Tôi mong luật sư giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.

1, Về vấn đề ly hôn:

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy, nếu bạn có có căn cứ về việc chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước giải quyết ly hôn.

Đứa con này được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng bạn do đó theo quy định của Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình thì đứa con này sẽ được xác định là con chung của hai vợ chồng bạn:

"Điều 88. Xác định cha, mẹ
1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định."

2. Về vấn đề vu khống

Điều 122 Bộ luật Hình sự quy định:

"Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy, nếu bạn có những căn cứ chứng minh anh chồng bạn có hành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bạn thì bạn có quyền tố giác hành vi của anh chồng lên cơ quan công an để yêu cầu giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm: Thỏa thuận quyền nuôi con khi ly hôn có thể cùng con xuất ngoại được không ?

3. Tranh chấp về quyền nuôi con khi ly hôn ?

Luật Minh Khuê xin cung cấp những quy định pháp luật hiện hành về quyền nuôi con khi ly hôn:

Tranh chấp về quyền nuôi con khi ly hôn ?

Trả lời:

1. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn

- Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
- Con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc mẹ không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con.

2. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

- Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

- Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

- Trong trường hợp cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

- Trong trường hợp có căn cứ khi người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện, thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

+ Người thân thích;

+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

+ Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Quyền thăm nom con sau khi ly hôn

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

4. Nghĩa vụ cấp dưỡng

Quý khách có thể dựa vào nội dung tư vấn trên đây để trả lời câu hỏi của mình.

“Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác”.

Trường hợp người này cố tình trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, vợ hoặc chồng hoặc những người có quyền lợi liên quan “có quyền yêu cầu tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó”, theo quy định tại khoản 1 Điều 119.

Theo quy định tại Điều 152 Bộ luật hình sự 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự,… không quy định trực tiếp biện pháp xử phạt đối với hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng. Tuy nhiên hành vi này được quy định chung tại điểm a khoản 3 Điều 52 Nghị định 110/2013/NĐ - CP. Theo đó, hành vi “không thực hiện công việc phải làm… theo bản án, quyết định” của tòa án có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng.

Trân trọng!

4. Giải đáp về quyền nuôi con và cấp dưỡng ?

Xin chào cty luật minh khuê Cháu tên h mới ly hôn với vợ tên là n, khi đó con trai cháu được 16 tháng nên tòa giao quyền nuôi cho cô n, thời gian đầu cháu có đưa tiền cấp dưỡng trực tiếp cho cô n đầy đủ, nhưng đến khi con cháu được 19 tháng thì cô nga đi làm xa và để con cho ông bà ngoại nuôi, cháu thấy con ốm nhiều và gầy lắm nên cháu hỏi xin cô n cho cháu đón con về nuôi và được đồng ý nên cháu đón con về nuôi đến giờ. bây giờ cháu đề nghị cô n chuyển quyền nuôi con cháu để cháu cho con đi học nhưng không được đồng ý, cháu nói cô n lên đón con về cho con đi học cô n cũng không đón, cháu không hiểu gì nên có người bảo cháu đưa tiền như thế là sai và đón con cũng sai, vì nếu cô n kiện cháu là bắt cóc con thì cháu phạm tội, cháu xin công ty luật minh khuê giúp cháu giải đáp thắc mắc cháu phải làm gì trong trường hợp này với ạ ?
Cháu xin trân thành cảm ơn!

Giải đáp về quyền nuôi con và cấp dưỡng ?

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Giải đáp vấn đề bạn nuôi con có phạm tội hay không?

Bạn chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thực hiện hành vi tội phạm quy định trong Bộ luật hình sự 1999, trong luật hình sự chỉ có một số tội liên quan xung quanh vấn đê nuôi con

- Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Điều 134. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Với tội bắt cóc này, hành vi phải là bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản phải có đồng thời hai hành vi: bắt cóc con tin và đe dọa chủ tài sản để chiếm đoạt tại sản.
Bạn đang thực hiện quyền của mình là chăm sóc, nuôi dưỡng con của mình, và không hề có hành vi giam giữ hay đe dọa vợ bạn để chiếm đoạt tài sản nên không thể cấu thành tội này.

- Tội không chấp hành án

Điều 304. Tội không chấp hành án

Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Tòa án đã tuyên là vợ bạn có quyền trực tiếp nuôi con, và theo đúng luật thì bạn phải giao con cho vợ nuôi. Nếu bạn cố tình không giao con cho vợ mặc dù cơ quan thi hành án đã áp dụng biện pháp cưỡng chế nhưng không thành. Tuy nhiên, việc bạn đang nuôi con hiện tại là vợ bạn đã chấp thuận, và cô ấy không yêu cầu bạn giao con, ngoài ra, bạn cũng chưa hề bị áp dụng biện pháp cưỡng chế giao con nên hành vi của bạn không cấu thành tội này.

Tóm lại, việc bạn nuôi con hiện tại mặc dù vi phạm quy định của bản án, nhưng chưa đủ căn cứ để cấu thành tội phạm để bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cách giải quyết:

Trong quá trình vợ cũ của bạn được tòa giao quyền nuôi con trực tiếp, bạn vẫn có quyền gặp con, thăm nom con. Nếu trong thời gian này, bạn thấy được vợ không đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc con như đi làm xa thì bạn có thể nộp đơn ra tòa yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con kèm theo chứng cứ chứng minh vợ bạn không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng cháu (lời làm chứng của hàng xóm xung quanh, xác nhận của công an xã phường về việc không có mặt tại địa phương...) Nếu yêu cầu của bạn là có căn cứ, tòa án sẽ ra quyết định thay đổi người nuôi con là bạn theo điểm b, khoản 2 điều 84 luật hôn nhân gia đình

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên."

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

5. Căn cứ để giành quyền nuôi con khi ly hôn ?

Luật Minh Khuê tư vấn luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và những vấn đề pháp lý liên quan:

Trả lời:

Về quyền nuôi con, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con"

Vợ chồng sẽ thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con. Trong trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ xem xét, quyết định trên cơ sở bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con. Một số căn cứ có thể được xem xét như: điều kiện sống từ lúc cháu sinh ra đến khi ly hôn; đạo đức, lối sống có ảnh hưởng đến cuộc sống của cháu con sau này; điều kiện về kinh tế có thể bảo đảm cuộc sống cho con; điều điều kiện về chỗ ở và các điều kiện khác.

Thưa luật sư, xin hỏi: em muốn hỏi về luật hôn nhân gia đình ạ.em lấy vợ năm 2011 cho đên nay cách đây mấy thang em đã ly hôn vì ko có hạnh phúc gia đinh em có quyết định ly hôn và trong tờ quyết định đó nói rõ là em dk thăm nom con cái ko ai có quyền cản trở nhưng em lại ko dk gạp con của mình vì vợ cũ của em ko cho biết địa chỉ và cũng có ý ko muốn cho em dk gặp vậy em phải làm thế nào để dk gặp con của mình theo luật hôn nhân và trong tờ quyết định đã nêu lên kính mong luật sư tư vấn và giúp em em xin chân thành cảm ơn ạ

Để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn có thể yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự quận tổ chức thi hành Quyết định đã có hiệu lực của Tòa án.

Kính gởi Luật sư Tôi đã lập gia đình từ năm 2009 đến nay tôi đã có 2 con, con gái sinh năm 2011 và con trai sinh 2015, hộ khẩu của tôi ở quảng ngãi, hộ khẩu chồng ở Trà Vinh, chúng tôi hiện đang làm việc cho các công ty tại TP.HCM (Cty tư nhân) và đăng ký tạm trú tại quận 12. tôi thường xuyên bị đánh khi không có tiền, hay chuyện gì không vui. Vì tôi sợ các con tôi mỗi đứa một nơi nên tôi chịu đựng nhưng vì càng ngày càng nhiều, vậy tôi muốn xin ly hôn -đơn phương thì gởi ở đâu, nếu con gái tôi ở với cha, con trai ở với mẹ. nhưng tôi muốn 2 chị em đứng ở cùng một hộ khẩu được hông? tôi chưa nhập khẩu cho con trai. tôi rất mong được tư vấn.Xin cảm ơn.

Điều 13 Luật cư trú 2006 sửa đổi năm 2013 quy định:

Điều 13. Nơi cư trú của người chưa thành niên

1. Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống.

2. Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.

Trong trường hợp này, hai cháu có thể đứng cùng một hộ khẩu nếu hai vợ chồng cùng đồng ý.

Luật Sư cho e hỏi E và người yêu cũ có con với nhau nhưng vì anh ấy là người đã có gia đình nên bọn em không thể đến với nhau. Em lấy một người khác làm chồng, cùng nuôi dạy đứa con đó vậy sau này người kia có quyền đòi nuôi con của em không ạ? Và nếu có thì e có thể bác bỏ quyền đó hay không. Mong Luật Sư hồi âm sớm giúp em Em xin chân thành cảm ơn!

Người chồng có thể giành quyền nuôi con nếu có Quyết định của Tòa án công nhận hai người là cha con.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

6. Ly hôn và giành quyền nuôi con như thế nào ?

Công ty luật Minh Khuê xin tư vấn ly hôn và giành quyền nuôi con như sau:

Trả lời:

Vấn đề 1: Thẩm quyền giải quyết ly hôn

Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định thẩm quyền giải quyết ly hôn theo lãnh thổ như sau:

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

Như vậy, nếu bạn ly hôn đơn phương thì bạn sẽ nộp tại nơi bị đơn cư trú.

Vấn đề 2: Thủ tục ly hôn thuận tình

Hồ sơ thuận tình ly hôn gồm:

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (Bản chính).

- Chứng minh thư nhân dân của vợ chồng (Bản sao có chứng thực).

- Giấy khai sinh của các con (Bản sao có chứng thực).

- Sổ hộ khẩu gia đình (Bản sao có chứng thực).

- Đơn yêu cầu thuận tình ly hôn theo mẫu.

Nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp quận huyện nơi thường trú của một trong hai bên.

Thủ tục hòa giải thuận tình ly hôn

Điều 52 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở.

Như vậy, trong trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn thì Nhà nước và xã hội khuyến khích hòa giải ở cơ sở. Nếu hòa giải ở cơ sở không thành thì sau khi thụ lý đơn thuận tình ly hôn, sẽ tiến hành thủ tục hòa giải ở Tòa án theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình 2014: Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Vấn đề 3: Tài sản chung và khoản nợ ly hôn

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn ( Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Như vậy, các khoản nợ hình thành trong thời kỳ hôn nhân, do vợ chồng cùng thỏa thuận vay để tạo lập nên tài sản chung của vợ chồng thì nguyên tắc chia đôi khi ly hôn.

Vấn đề 4: Tranh chấp quyền nuôi con

Theo quy định tại điều 81, Luật hôn nhân và gia đình 2014, vấn đề quyền nuôi dưỡng con sau khi ly hôn được quy định như sau:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, con dưới 36 tháng tuổi được trực tiếp giao cho mẹ nuôi dưỡng.

Đối với trường hợp con trên 3 tuổi đến dưới 7 tuổi thì cha và mẹ có quyền giành quyền nuôi con thông qua việc chứng minh được ai sẽ là người có đủ điều kiện vật chất và tinh thần để đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích cho đứa trẻ. Các yếu tố về vật chất như: gia cảnh, thu nhập, điều kiện kinh tế, tài sản...Các yếu tố về tinh thần như: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm dành cho con, điều kiện cho con vui chơi giải trí, trình độ học vấn… của cha mẹ. Bên nào đưa ra được những căn cứ thuyết phục hơn sẽ được tòa án xem xét giải quyết và trao quyền nuôi con.

Đối với trường hợp con trên 7 tuổi tòa án sẽ xem xét nguyện vọng của con để đưa ra phán quyết về việc quyền nuôi con

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê