Chồng em và vợ cũ ly hôn từ năm 2008, chồng em giành quyền nuôi con nhưng không có trách nhiệm gì với cháu mà để cho mẹ của anh ta năm nay ngoài 70 tuổi phải nuôi. Không có bất cứ 1 đồng nào gọi là đóng góp vào cho mẹ chồng em nuôi con cho anh ta. Anh ta kết hôn với em từ năm 2012 chúng em cũng có 1 con chung, cháu sinh năm 2012. Anh ta cũng không có trách nhiệm gì với 2 mẹ con em. Em đi làm công nhân thu nhập 1 tháng trung bình là 5 triệu. Kinh tế độc lập tiền ai người nấy tiêu. Anh ta vừa mãn hạn tù về tội đánh bạc. Trước khi đi tù anh ta cũng hay đánh em nhiều lần, sau khi đi tù về mới được 3 tháng anh ta cũng không lo tu chí làm ăn, mỗi tháng anh ta chỉ trách nhiệm tiền học cho con là 1.200.000 và tiền điện khoảng 600.000 nhưng không tự giác, hầu như em hoặc mẹ chồng phải ứng ra sau đó đòi mỏi mồm anh ta mới trả, có tháng trả có tháng không trả. Tiền ăn uống chợ búa hàng ngày là em lo nhưng công ty em có tổ chức đi du lịch nếu không đi sẽ bị trừ vào tiền lương, anh ta không cho em đi, anh ta bảo:

" Tao chẳng xin đứa nào miếng ăn cả, tao không cho mày đi". Anh ta không đưa cho em 1 nghìn nào để thêm vào tiền chi tiêu sinh hoạt, em có bị trừ lương hay không anh ta cũng không cần biết. Anh ta đánh đập em rất nhiều lần, dùng then cửa, dùng sống dao, dùng 2 nắm đấm đấm vào 2 bên thái dương trên đầu em. Nhu cầu cơ bản của con gái là mua sữa rửa mặt, dầu gội, sữa tắm em có mua về cũng bị chửi là :" Mày có thằng nào nó ngắm rồi nên mua toàn những thứ này về dùng" Em bỏ tiền của em ra mua,em cho con em đi học anh ta giữ cháu bảo :" Học thì học không học thì thôi".

Em muốn hỏi công ty luật Minh Khuê là: Thứ nhất: Em nộp đơn ly hôn đơn phương nhưng em muốn vắng mặt khi Tòa xử có được không vì anh ta đe dọa đến tính mạng của em? Thứ hai: Em muốn giành quyền nuôi con thì em phải có những giấy tờ gì? VD: Bảng lương? Hợp đồng lao động? Sau khi ly hôn nếu em vẫn bị đe dọa và bị gây khó khăn khi đi làm và sinh sống thì em phải làm thế nào? Em xin chân thành cảm ơn!!!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân công ty Luật Minh khuê. 

>> Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn đơn phương, gọi : 1900 6162

 

Trả lời

Công ty luật Minh Khuê chào bạn! Cảm ơn bạn đã quan tâm và chia sẻ những thắc mắc của mình với chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật tố tụng dân sự số 65/2011/QH12 sửa đổi của Quốc hội

Luật hôn nhân và gia đình 2014

Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, về việc bạn nộp đơn ly hôn đơn phương nhưng vắng mặt tại Tòa

Căn cứ theo Điều 199, Điều 202 Bộ luật tố tụng dân sự số 65/2011/QH12 quy định:

"Điều 199. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Toà án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên toà.

2. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên toà, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

b) Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Toà án quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Theo quy định tại Điều 202. Xét xử trong trường hợp đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự vắng mặt tại phiên toà

Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:

1. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên toà có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt;

2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng có người đại diện tham gia phiên toà;

3. Các trường hợp quy định tại điểm b và điểm d khoản 2 Điều 199 của Bộ luật này"

Như vậy, Tòa án vẫn giải quyết khi bạn vắng mặt tại tòa trong trường hợp bạn phải có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa.

Thứ hai, về quyền nuôi con sau khi ly hôn

Căn cứ theo Điều 81, Điều 115, Điều 116 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Điều 115. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn

Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Theo như trên, sau khi ly hôn vợ chồng bạn thỏa thuận về quyền trực tiếp nuôi con. Tòa án sẽ tình hình thực tế của mỗi bên làm căn cứ đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con mà quyết định quyền nuôi con ( Điều 81). Và người không trực tiếp nuôi con cũng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bên trực tiếp nuôi con với mức cấp dưỡng được quy định tại Điều 116 Luật hôn nhân gia đình 2014.

Thứ ba, về vấn đề bạn lo lắng sau ly hôn có thể bị đe dọa hoặc gây khó khăn 

Do ở đây là trường hợp bạn lo lắng,có dự phòng trước và chưa biết mức độ đe dọa của chồng bạn là ở mức độ nào nên chúng tôi chỉ tư vấn thông tin mang tính chất để bạn tham khảo. Chẳng hạn, chồng bạn đe dọa giết bạn, theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi 2009) nêu rõ:

"Điều 103. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe doạ giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe doạ lo sợ rằng việc đe doạ này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm."

Hơn nữa, " cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể" ( khoản 1 Điều 32 Bộ luật dân sự 2005). Vì lẽ đó bạn có thể yên tâm và cũng nên gửi đơn tố cáo tới cơ quan công an để có biện pháp ngăn chặn, nhắc nhở kịp thời trong trường hợp chồng bạn đe dọa hay gây khó khăn cho bạn. Tránh hậu quả xấu có thể xảy ra.

Ngoài ra, chồng bạn đánh bạn nhiều lần,"dùng then cửa, dùng sống dao, dùng 2 nắm đấm đấm vào 2 bên thái dương trên đầu", đó là hành vi bạo lực gia đình, bạn nên cung cấp thông tin tới cơ quan có thẩm quyền và yêu cầu được bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình. Từ đó chồng bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm hại sức khỏe thành viên trong gia đình. Cơ sở pháp lý như sau:

Căn cứ theo Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình số 02/2007/QH12 của Quốc hội:

"Điều 2. Các hành vi bạo lực gia đình

1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng."

Căn cứ theo Điều 49 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình:

"Điều 49: Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.
2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;
b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật luật Minh Khuê