Hiện nay do tôi làm ăn thua lỗ nên vợ chồng có những bất đồng mà không thể hoà giải được chỉ vì khoản nợ của ngân hàng, cụ thể năm 2009 tôi có vay thêm tiền của ngân hàng để mua 02 mảnh đất, do tình hinh bất động sản đóng băng nên tôi không thể bán được để cắt lỗ . Hiện nay ngân hàng đưa ra giải pháp cho tôi là bán tài sản đó cho ngân hàng để giải thoát cho gia đình tôi nhưng vợ tôi nhất quyết không thừa nhận số tài sản đó là của chung và nói ai đứng tên thì người đó tự giải quyết. Theo tôi được biết tài sản hình thành sau hôn nhân là tài sản chung của hai vợ chồng. Vậy tôi cho tôi hỏi khi ra toà ly hôn thì toà sẽ giải quyết số tài sản này như thế nào?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: M.Q

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hôn nhân gia đình của Công ty Luật Minh Khuê.

Ly hôn giải quyết tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân ? 

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý

Luật hôn nhân gia đình 2014 

Nội dung phân tích

Tài sản chung vợ chồng được quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng."

Như vậy, 2 mảnh đất đó được coi là tài sản của hai vợ chồng bạn trong thời kỳ hôn nhân trừ trường hợp bạn dùng tiền riêng của mình để mua. Nhưng rõ ràng trong trường hợp này bạn dùng tiền chung, cho nên đây được coi là tài sản chung của 2 vợ chồng bạn. 

Điều 26 Luật hôn nhân gia đình quy định như sau: "2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này." Khoản 3, điều 33 Luật hôn nhân quy định "3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.". Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng ( khoản 3, điều 33).

Theo điều 37 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì nghĩa về chung về tài sản của vợ chồng bao gồm:

"Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan."

Việc làm ăn kinh doanh của bạn (hợp đồng vay tài sản của ngân hàng) phục vụ cho nhu cầu của gia đình, vợ bạn có biết và không phản đối cho nên dù bạn có một mình đứng ra thực hiện hoạt động kinh doanh này thì vợ bạn cũng sẽ có nghĩa vụ liên đới trong việc trả khoản nợ đó cùng với bạn dù quan hệ hôn nhân của bạn còn hay không còn tồn tại.

Về câu hỏi của bạn, khi ly hôn do là tài sản chung tòa án giải quyết như thế nào, thì tại điều 62 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định rất cụ thể như sau :

"Điều 62. Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này."

Như vậy, bạn chưa cung cấp loại đất nên chúng tôi chưa thể xác định cách chia cụ thể cho bạn được. Bạn vui lòng tham khảo các quy định trên đây để biết rõ hơn.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. 

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.