1. Ly hôn thì quyền nuôi con và chia tài sản khi ly hôn thực hiện như thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi kết hôn 4 năm có 1 đứa con 35 tháng tuổi. Tôi muốn li hôn vì chồng tôi thường xuyên xúc phạm danh dự nhân phẩm ba mẹ tôi. Nhiều lúc có hành vi muốn đánh đập tôi vì tôi nhắc đến người yêu cũ của ảnh,họ đã chung sống với nhau như vợ chồng trước khi lấy tôi đến lúc lấy tôi chồng tôi thường xuyên nhắn tin nói chuyện yêu đương.

Tôi đã mất tình cảm với chồng tôi từ cách đây 1 năm. Vẫn chung sống nhưng không có tình cảm chỉ là phận của ai người nấy lo. Tôi muốn chia đôi tài sản nhưng tôi muốn nuôi con được không ạ ?

Mong luật sư tư vấn giúp tôi.

Ly hôn khi không còn tình cảm với chồng thì quyền nuôi con và chia tài sản khi ly hôn thực hiện như thế nào ?

Luật sư tư vấn ly hôn, chia tài sản, quyền nuôi con, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất, về việc đơn phương ly hôn.

Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Theo quy định trên thì khi bạn muốn ly hôn đơn phương thì phải có căn cứ về việc chồng có hành vi bạo lực gia đình ( thông qua hình ảnh, video, người làm chứng,...) hoặc căn cứ chứng minh chồng bạn vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng ( nghĩa vụ chung thủy, nghĩa vụ tôn trọng nhân phẩm danh dự của vợ, nghĩa vụ yêu thương vợ,...).

Thứ hai, về việc chia tài sản khi ly hôn.

Do trong thư bạn chưa nêu rõ bạn và chồng có những tài sản gì, đựợc xác lập trong thời kỳ hôn nhân hay không nên chúng tôi chưa thể tư vấn cụ thể cho bạn được. Đầu tiên, bạn sẽ xác định mình và chồng có những tài sản gì? Là tài sản chung hay riêng? Sau đó đối chiếu theo Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về nguyên tắc chia tài sản vợ chồng khi ly hôn như sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Thứ ba, về vấn đề nuôi con khi ly hôn.

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dữơng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Từ những quy định trên, có thể rút ra một số điều đối với trường hợp cụ thể của bạn:

Theo quy định pháp luật hôn nhân và gia đình con dưới 36 tháng tuổi sẽ giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ truờng hợp mẹ không đủ sức khỏe. Thông tin bạn cung cấp con bạn đã 35 tháng tuổi nên khi đưa vụ việc của bạn ra giải quyết theo trình tự đơn phương ly hôn con bạn sẽ trên 36 tháng tuổi ( vì khi nộp đơn đến Tòa án bạn và chồng sẽ phải qua tiến hành hòa giải trước, nếu hòa giải không thành sẽ tiến hành đưa vụ án ra xét xử và thời hạn xét xử ở đây căn cứ theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015). Lúc này, bạn sẽ không đựợc ưu tiên về việc nuôi con nữa, bạn muốn nuôi con phải chứng minh rằng bạn có điều kiện nuôi con tốt hơn qua các phương diện: Mức thu nhập, thời gian chăm sóc con, nhân cách,...

Vấn đề nuôi con và chia tài sản khi ly hôn là hai vấn đề độc lập với nhau. Do đó, bạn vẫn có thể yêu cầu chia tài sản trong khối tài sản chung đồng thời đưa ra căn cứ chứng minh điều kiện của mình tốt hơn để giành quyền nuôi con.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay: Đơn phương ly hôn cần những giấy tờ như thế nào để Toà thụ lý ?

2. Quyền nuôi con và phân chia tài sản ?

Kính gửi luật sư. Vì chồng tôi thường xuyên nhậu nhẹt, bỏ bê vợ con nên tôi muốn ly hôn. Hiện tại chúng tôi có 1 con chung đã được 36 tháng. Thu nhập hiện tại của tôi khoảng 15 triệu. Chồng tôi làm nghề điện ôtô nhưng làm tự do, thu nhập khoảng 7-10 triệu. Chúng tôi có 1 căn nhà chung nhưng không có sổ đỏ. Tôi muốn hỏi nếu ra tòa ly hôn thì tôi có được quyền nuôi con không ? Và căn nhà đó có được giải quyết không ? Tôi thấy người ta nói phải tới tòa án để xin đơn ly hôn chứ đơn trên mạng tòa án không chịu có phải vậy không ? Hai vợ chồng có KT3 ở Thủ Đức, vậy tòa án ở Thủ Đức có thẩm quyền giải quyết không ? CMND và hộ khẩu là bản sao có công chứng hay là bản gốc ?
Rất mong phản hồi của luật sư. Chân thành cảm ơn.

Luật sư : Lê Minh Trường - Tư vấn ly hôn và quyền nuôi con trên VTV3

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

- Thứ nhất, ngôi nhà chung của hai bạn không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà không biết là vì lý do gì nhưng nếu là tài sản chung cửa vợ chồng bạn thì sẽ được chia đôi có tính đến đóng góp của các bên. Nếu là tài sản riêng của bên nào thì bên đó vẫn là chủ sở hữu nhà. Nếu hai bên không thỏa thuận được về việc chia tài sản này thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết.

- Thứ hai, về việc phân chia quyền nuôi con sau khi ly hôn, trước hết tòa án sẽ đưa ra quyết định dựa trên thỏa thuận của hai bên. Nếu không thỏa thuận được thì sẽ yêu cầu tòa án giải quyết. Bạn cũng lưu ý là con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao trực tiếp cho mẹ nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp nuôi hoặc giuac cha mẹ có thỏa thuận khác.

- Thứ ba, đơn ly hôn bạn có thể đến tòa án xin mẫu hoặc lên mạng tham khảo, đơn có thể viết tay và đánh máy đều được. Bạn sẽ nộp hồ sơ ly hôn tại tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ chồng bạn cư trú. Chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu cần nộp là bản photo có chứng thực.

"Điều 35. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ theo Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (Luật sửa đổi, bổ sung bộ luật tố tụng dân sự 2011)
1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;
b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;
c) Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản."

>> Tham khảo bài viết liên quan: Pháp luật hiện hành quy định về quyền nuôi con sau ly hôn và việc giải quyết tranh chấp về quyền nuôi con ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. Luật sư tư vấn về đòi quyền nuôi con và phân chia tài sản theo luật hôn nhân gia đình ?

Thưa luật sư, xin hỏi: 1. Về đòi quyền nuôi con: tôi là giáo viên biên chế nhà nước, công việc ổn định, không có nhà cửa, tôi và con gái 6 tuổi đang ở nhà ngoại có điều kiện. Chồng tôi đứng tên hai căn nhà, công việc lương cao hơn tôi nhưng ở ban quản lý dự án thủy điện nên không ổn định. Chồng đơn phương ly hôn tôi và giành quyền nuôi con.

Vậy tôi có thể đòi quyền nuôi con khi mà từ nhỏ tôi luôn là người chăm sóc con và con tôi chỉ muốn ở với mẹ. 2. Phân chia tài sản: trước đây ông bà nội của chồng có sở hữu một mảnh đất ở quê nhưng không có sổ đỏ và không có di chúc để lại cho ai. Gia đình bố chồng có 7 người con nhưng bố chồng tự ý bằng quan hệ thân thiết với ủy ban nhân dân xã minh châu, huyện đông hưng, tỉnh thái bình đã tự ý làm sổ đỏ không thông qua 6 anh chị em khác đã làm sổ đỏ đứng tên chồng tôi. Trước khi làm sổ đỏ một năm thì bố chồng đã lấy 01 tỷ tiền của vợ chồng tôi để xây nhà trên mảnh đất đó mà không có giấy tờ gì chứng nhận vợ chồng tôi đã đưa tiền cho bố chồng.

Vậy khi ly hôn căn nhà đó tôi có thể đòi lại một nửa số tiền đã xây căn nhà đó không ạ ? Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn về đòi quyền nuôi con và phân chia tài sản theo luật hôn nhân gia đình ?

Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự về chia tài sản, gọi: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Thứ nhất về con chung:

Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về quyền nuôi con sau ly hôn, theo đó con dưới 36 tháng tuổi trực tiếp giao cho người mẹ nuôi (trừ trường hợp hai vợ chồng thỏa thuận khác hoặc người vợ không đủ điều kiện nuôi); con từ đủ 7 tuổi trở lên có quyền được lựa chọn ở với mẹ hoặc cha.

Đối với trường hợp của chị, con 6 tuổi thì khi có tranh chấp về quyền nuôi con sau ly hôn Tòa án sẽ căn cứ vào các tiêu chí sau để xác định:

- Khả năng kinh tế

- Quan hệ gắn bó giữa con với cha mẹ

- Nhân cách, đạo đức của cha mẹ

- Hoàn cảnh gia đình của cha mẹ...

Theo những thông tin mà chị cung cấp thì về kinh tế chị có thể không bằng chồng, nhưng về quan hệ gắn bó giữa chị và cháu cùng với vấn đề dạy dỗ con hoàn toàn do chị lo thì đây là một lợi thế giúp chị có thể giành quyền nuôi con. Vì thế chị vẫn có khả năng để giành quyền nuôi con.

Thứ hai về vấn đề tài sản:

Căn nhà mà anh chị đang sinh sống có được trong thời kỳ hôn nhân đó là tài sản chung của anh chị; chị có thể yêu cầu chia tài sản chung là căn nhà. Cũng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn sẽ được chia đôi có tính đến các yếu tố về: công sức đóng góp, lỗi, hoàn cảnh của các bên.

Còn số tiền một tỷ, nếu chị muốn đòi tiền từ bố chồng chị, nhưng không có chứng cứ chứng minh về việc anh chị đã giao tiền cho bố thì không có căn cứ để đòi lại tiền.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm: Chuyển hộ khẩu và quyền nuôi con sau khi ly hôn?

4. Khi ly hôn thì chia tài sản như thế nào ? Quyền nuôi con thuộc về ai ?

Xin chào Văn phòng Luật Minh Khuê, Tôi viết mail này với mong muốn nhận được sự tư vấn về tình trạng hôn nhân của bố mẹ tôi. Xin được phép nói ngắn gọn vấn đề, bố mẹ tôi năm nay đã ngoài 60t (cả 2 đều đã nghỉ hưu được nhiều năm), bố tôi đã ngoại tình từ lâu (hơn 10 năm), đến giờ ông đã có 2 đứa con riêng với người vợ lẽ nhưng suốt từ đó đến nay bố mẹ tôi không ly hôn.

Tài sản chung giữa bố mẹ gồm 2 căn nhà (1 nhà ở và 1 nhà trọ), cả 2 cùng đứng tên nhưng trong suốt những năm qua chỉ có mẹ tôi chăm sóc và quản lý công việc gia đình ở cả 2 nhà nên mẹ không muốn ly hôn để phải phân chia tài sản vì đó đều là công sức của bà (mẹ tôi đã nhiều lần thương thảo với ba tôi về việc sang tên cả 2 ngôi nhà cho chúng tôi (các con) nhưng ba tôi không đồng ý). Chia đôi tài sản thì mẹ tôi không muốn, nhường lại tài sản thì ba tôi không chịu, mà cứ dùng dằng như hiện tại (mẹ tôi vẫn đang một mình quản lý 2 ngôi nhà nhưng trên giấy tờ vẫn là 2 người cùng đứng tên) thì không biết cuối cùng sẽ ra sao nên chúng tôi có những thắc mắc như sau mong nhận được giải đáp từ phía công ty:

1. Trong trường hợp ly hôn, theo tôi được biết thì pháp luật sẽ để cho vợ chồng tự thỏa thuận việc phân chia tài sản trước, nhưng nếu thỏa thuận không được thì không biết pháp luật sẽ dùng đến biện pháp/cơ sở/thước đo nào để đánh giá và định đoạt việc phân chia tài sản giúp bố mẹ tôi?

2. Trong trường hợp không ly hôn, mẹ tôi vẫn tiếp tục quản lý 2 ngôi nhà đến cuối đời, nhưng nếu bà ra đi trước bố tôi thì có phải sau đó bố tôi sẽ được quyền định đoạt toàn bộ tài sản (gồm cả 50% của bà)? Mặt khác, nếu mẹ tôi mất trước nhưng có để lại di chúc định đoạt 50% tài sản của bà thì có hợp lý và khả thi không? Ngược lại, có phải cho dù bố tôi mất trước hay mất sau thì mẹ tôi cũng không có quyền quyết định đối với 50% tài sản còn lại của ông? Nếu ông để lại di chúc cho 50% này cho người khác thì coi như mẹ con tôi không được gì, ông không để lại di chúc thì 50% này chia đều cho tất cả các con của 2 người vợ, không biết suy nghĩ này có đúng không?

Trên đây là một số thắc mắc của tôi. Rất mong nhận được sự tư vấn từ các luật sư của công ty. Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của quý anh chị. Trân trọng.

Khi ly hôn thì chia tài sản như thế nào ? Quyền nuôi con thuộc về ai ?

Trả lời:

Về vấn đề thứ nhất: việc phân chia tài sản sau ly hôn nếu các bên không thỏa thuận được sẽ được phân chia theo nguyên tắc quy định tại điều 59 bộ luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Theo quy định trên thì nếu các bên không thỏa thuận được thì tòa án sẽ đứng ra giải quyết việc phân chia tài sản. Thông thường tài sản chung giữa 2 vợ chồng sẽ được chia đôi, tuy nhiên tòa án vẫn sẽ dựa vào các yếu tố như hoàn cảnh của các bên, công sức đóng góp của các bên vào tài sản chung đó, bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên, lỗi của các bên. Thì công sức đóng góp của các bên ở đây là 1 vấn đề phức tạp, do đó cần đánh giá 1 cách khách quan, toàn diện từ nguồn gốc hình thành tài sản cho đến việc duy trì, phát triển tài sản đó.

Về vấn đề thứ 2: điều 66 luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 66: Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

- Thứ nhất, nếu mẹ bạn mất trước bố bạn mà không có di chúc thì phần tài sản của mẹ bạn trong khối tài sản chung sẽ được phân chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại điều 651 bộ luật dân sự năm 2015 bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Với những thông tin mà bạn cung cấp thì trong trường hợp này thì phần di sản đó sẽ được chia đều cho bạn và bố của bạn. Ngoài ra bạn và bố bạn có thể thỏa thuận với nhau về việc phân cha di sản đó.

- Thứ hai, Nếu mẹ của bạn mất mà có để lại di chúc thì việc phân chia tài sản riêng của mẹ bạn, phần tài sản của mẹ bạn trong khối tài sản chung sẽ được chia cho những người thừa kế trong di chúc.

Ngoài ra theo điều 644 luật dân sự năm 2015 quy định thì có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc như sau:

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Tức là nếu trong di chúc mẹ bạn không đề cập đến việc chia tài sản cho bố của bạn thì bố bạn vẫn được hưởng một phần di sản bằng hai phần ba suất của bạn.
-Thứ ba, nếu bố bạn mất để lại di chúc cho 2 người con riêng thì theo quy định trên, mẹ của bạn , con chưa thành niên hoặc thành niên mà không có khả năng lao động của bố bạn vẫn sẽ được hưởng 1 phần di sản bằng 2 phần 3 suất của người được hưởng thừa kế theo pháp luật.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay: Chồng tố cáo vợ ngoại tình để giành quyền nuôi con phải làm sao ?

5. Quyền nuôi con và phân chia tài sản, nghĩa vụ trả nợ

Kính chào các Luật sư, em xin nhờ luật sư tư vấn giúp em về quyền nuôi con và quyền lợi phân chia tài sản ạ. Em có 2 cháu, cháu lớn 7 tuổi, cháu bé 3 tuổi. Vợ chồng em đang ở căn nhà được thừa hưởng từ bố chồng nhưng không có sổ đỏ mà chỉ có giấy phân nhà cửa công ty bố chồng em ngày xưa. Vợ chồng em hiện đang mua 1 căn chung cư vay vốn 30,000 tỷ của nhà nước nhưng chưa giao nhà. Có 1 oto mua sau khi kết hôn nhưng đứng tên chồng. Ngoài ra có vay 1 khoản vay tiêu dùng của Ngân hàng nhưng chưa trả hết nợ. Lương em ổn định nhưng không cao, dưới 10 triệu. Lương chồng em thì khá, trên 20 triệu.
Xin hỏi, nếu ly hôn, vợ chồng em không tự thỏa thuận được phân chia tài sản và nợ và em muốn nuôi 2 con thì quyền lợi của em nhận được sẽ thế nào ạ?
Em cảm ơn nhiều ạ!!!

Quyền nuôi con và phân chia tài sản ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Về quyền nuôi con:

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, quyền nuôi con sẽ dựa trên sự thỏa thuận vợ chồng. Nếu không thỏa thuận được thì Tòa sẽ dựa trên điều kiện vật chất và tinh thần (điều kiện trực tiếp chăm sóc con, môi trường giáo dục con,..) quyết định quyền nuôi con. Riêng con 7 tuổi có thể dựa trên cả ý kiến của con.

Về tài sản:

Về chiếc ô tô:

Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về: Tài sản riêng của vợ, chồng

"1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Chiếc ô tô được coi là tài sản riêng vì nó phục vụ nhu cầu đi lại của chồng bạn nên chồng bạn sẽ có quyền với chiếc ô tô này.

Về nhà chung cư và khoản nợ: Nếu hai vợ chồng không có thỏa thuận ai có nghĩa vụ trả nợ thì:

Việc trả nợ tiền vay để mua nhà chung cư và số tiền nợ sẽ là nghĩa vụ chung của vợ chồng và vợ chồng cùng có trách nhiệm trả. Người đứng tên ngôi nhà sẽ phải thanh toán 1 nửa giá trị của ngôi nhà cho bên kia

Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình quy định về: Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

>> Tham khảo bài viết liên quan: Văn bản thỏa thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

6. Thắc mắc về vấn đề ly hôn, chia tài sản và giải quyết tranh chấp quyền nuôi con ?

Luật Minh Khuê tư vấn và giải đáp mọi thắc mắc về vấn đề ly hôn, chia tài sản và giải quyết tranh chấp quyền nuôi con theo quy định của pháp luật hôn nhân hiện hành:

Thắc mắc về vấn đề ly hôn, chia tài sản và giải quyết tranh chấp quyền nuôi con ?

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi, chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Thứ nhất, Được biết , hiện nay bạn muốn ly hôn nhưng vợ chồng bạn không thỏa thuận được vấn đề nuôi con , chăm sóc , giáo dục con sau ly hôn theo Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

" Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

Do đó, Đối với vấn đề nuôi con Tòa án sẽ căn cứ Theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau :

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, đối với cháu trên 7 tuổi sẽ xem xét nguyện vọng của con muốn sống cùng ai và cháu từ 3 đến dưới 7 tuổi sẽ xét xem quyền lợi về mọi mặt của con để xét xem quyền lợi nuôi con thuộc

Thứ hai, Đối với tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì sẽ căn cứ theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau :

"1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Do đó, Khi ly hôn , vợ chông cần có các giấy tờ chứng minh tài sản chung và riêng của vợ chồng và tòa án sẽ dựa theo nguyên tắc nêu trên để phân chia tài sản.

Ly hôn vắng mặt:

Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự quy địng về: Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

"1. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Toà án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên toà.

2. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên toà, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

b) Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ;"

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê