1. Ly hôn khi không xác minh được nơi bị đơn cư trú?

Thưa luật sư, Vợ chồng tôi kết hôn năm 2011 và đăng ký hộ khẩu tại H.DD. Chúng tôi có một cháu trai đầu lòng được hơn 1 tuổi. Vợ tôi đã bỏ nhà đi cùng con tôi để sinh sống và làm việc tại TP.CC được hơn 1 năm và kể từ đó vợ chồng tôi cũng ly thân đã được hơn 1 năm.

Trong khoảng thời gian đó tôi biết vợ và con ở đâu nên tôi có đến thăm thường xuyên con tôi hàng tuần và cấp dưỡng cũng như thu sếp việc vợ chồng. Khi con tôi chưa được một năm tuổi (khoảng 10 tháng) gia đình vợ và vợ tôi đã đưa con tôi về quê ngoại để cai sữa cho con tôi và giao cho Ông bà ngoại nuôi dưỡng bất chấp sự phản đối của tôi. Từ đó nến nay đã được hơn 3 tháng và cách nơi tôi và vợ tôi sinh sống và làm việc 90 cây số. Từ đó một tuần có khi vợ tôi chỉ về với con được một lần hoặc có tuần không về. Tôi thì vì vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và đã trở thành mâu thuẫn của gia đình hai bên nên từ khi con tôi ở với ông bà ngoại thì việc đến thăm con là rất khó khăn cho tôi.

Do mâu thẫu ngày càng nghiêm trọng và cần phải chấm dứt hôn nhân nên tôi đã đã làm đơn ly hôn đơn phương và nộp lên tòa án nơi tôi và vợ tôi có hộ khẩu-tức tòa án của H.DD. Tôi đã iến hành xác minh địa chỉ cư trú của vợ với cơ quan công an nơi vợ sống và làm việc nhưng vì vợ không đăng ký tạm trú nên tôi không có văn bản gì để xác minh với tòa án H.DD và chủ nhà vợ tôi thuê cũng như vợ tôi không cấp cho tôi giấy tờ gì để tôi xác minh với tòa án của H.DD để tòa án H.DD chuyển hồ sơ đến nơi bị đơn cư trú tại TP.CC

Vậy tôi xin hỏi: Việc ly hôn của tôi phải giải quyết như thế nào ? Và do tòa án nào giải quyết?

Tôi kính mong Quý cơ quan tạo điều kiện giải đáp giúp tôi và tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Quý cơ quan.

Người gửi: Nguyễn Văn Mạnh

Tư vấn Ly hôn khi không xác minh được nơi bị đơn cư trú

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trường hợp của bạn, Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (Luật tổ tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ:

“Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này”.

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 1 Nghị định 56/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 107/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật cư trú:

“Điều 4. Nơi cư trú của công dân

1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường xuyên sinh sống.

Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu, sử dụng của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Đối với chỗ ở do thuê, mượn hoặc ở nhờ tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh phải bảo đảm diện tích tối thiểu là 5 m2 sàn/01 người.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này, thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống và có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn...”.

Như vậy bạn có thể nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại Toà án nhân dân cấp huyện nơi vợ bạn cư trú, làm việc. Theo quy định của pháp luật nơi cư trú là nơi vợ bạn thường trú hoặc tạm trú. Trường hợp bạn không xác định được nơi cư trú của vợ bạn thì bạn nộp đơn khởi kiện tại Tòa án cấp huyện nơi vợ bạn đang sinh sống và có xác nhận của Công an của công an xã, (phường, thị trấn).

Bạn có thể làm đơn yêu cầu Toà án xác minh chỗ ở của vợ bạn đang sinh sống khi nộp hồ sơ khởi kiện ly hôn tại Toà án cấp huyện.

Hồ sơ ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu tạm trú, thường trú, CMND của anh và vợ;

- Giấy khai sinh các con;

- Giấy tờ chứng minh tài sản.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Dịch vụ tư vấn pháp luật lĩnh vực Hôn nhân gia đình;

2. Tư vấn thủ tục ly hôn vắng mặt chồng ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi có em gái muốn li hôn nhưng không biết thủ tục li hôn như thế nào và không có thời gian nhiều để giải quyết li hôn.

Hiện tại em gái tôi đang sống ở huyện Đ.A-H.N, lấy chồng quê B.N nhưng hiện nay chồng đã đi xuất khẩu lao động N.B rồi. Do thời gian đi nước ngoài cũng khá lâu mà chồng không gửi tiền về cho vợ nuôi 1 con nhỏ gần 2 tuổi và nói chung 2 người không còn tin tưởng nhau nữa về các mặt tình cảm,cũng như là vật chất nên chồng cũng đồng ý li hôn nhưng mà lại đang ở nước ngoài. Em tôi đang bối rối không biết làm thủ tục thế nào. Kính mong Luật sư tư vấn giúp. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: V.C

Tư vấn thủ tục ly hôn vắng mặt chồng ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Chúng tôi xin trả lời như sau:

Trường hợp của em gái bạn là thuận tình ly hôn (cả hai vợ chồng đều đồng ý ly hôn). Điều 55 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về thuận tình ly hôn như sau:

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Em bạn cần chuẩn bị hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

- Mẫu đơn thuận tình ly hôn

- Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có Sao y bản chính).

- Bản chính giấy chứng nhận kết hôn (nếu có), trong trường hợp mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải trình bày rõ trong đơn.

- Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con).

- Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).

- Nếu hai bên kết hôn tại Việt Nam, sau đó vợ hoặc chồng xuất cảnh sang nước ngoài (không tìm được địa chỉ) thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương về việc một bên đã xuất cảnh và đã tên trong hộ khẩu.

- Nếu hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài muốn ly hôn tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn xin ly hôn.

Về việc giải quyết ly hôn vắng mặt vợ/chồng được giải quyết như sau:

Khoản 2, Điều 58 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung 2011 quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của đương sự khi tham gia tố tụng, theo đó các đương sự có quyền và nghĩa vụ phải tham gia phiên toà và phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án và chấp hành các quyết định của Toà án trong thời gian giải quyết vụ án. Trong một số trường hợp, nếu không thể tham gia phiên toà, các đương sự có thể cử người đại diện theo uỷ quyền tham gia phiên toà thay mặt cho mình.

Tuy nhiên, đối với vụ việc ly hôn, theo quy định tại khoản 3 Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung 2011, đương sự không được uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng, cụ thể là:

người đại diện theo uỷ quyền được quy định trong Bộ luật dân sự là người đại diện theo uỷ quyền trong tố tụng dân sự; đối với việc ly hôn, đương sự không được uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng.

Như vậy, chồng em bạn bắt buộc phải về Việt Nam để thực hiện các thủ tục xin ly hôn mà không thể yêu cầu toà án xử vắng mặt được. Nếu chồng em bạn không về Việt Nam được thì em bạn nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự (yêu cầu ly hôn đơn phương) để Tòa án giải quyết.

Về thủ tục yêu cầu giải quyết việc ly hôn thuận tình:

Bước 1: Nộp hồ sơ xin ly hôn tại Tòa án nhân dân quận/huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng;

Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc Tòa án kiểm tra đơn và ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho đương sự

Bước 3: Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;

Bước 4: Trong thời hạn 15 ngày làm việc Tòa án tiến hành mở phiên hòa giải.

Bước 5: Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành (không thay đổi quyết định về việc ly hôn) nếu các bên không thay đổi ý kiến Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

3. Chồng bị phạt tù, vợ có quyền ly hôn không?

Thưa luật sư, Chồng tôi bị phạt 7 năm tù giam vì tội cố ý gây thương tích, tôi muốn ly hôn với chồng tôi. Tôi muốn hỏi thủ tục thực hiện như thế nào? Thời gian bao lâu?
Người gửi: N.L Phương

Chồng bị phạt tù, vợ có quyền ly hôn không?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ pháp lý xin ly hôn:

Điều 85 Luật hôn nhân gia đình năm 2000. Quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn.

2. Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn.

Theo quy định trên, người chồng (vợ) có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 85 .2. Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn. Như vậy, trường hợp một trong hai bên (vợ hoặc chồng) đang thi hành hình phạt tù giam mà không thuộc vào khoản 2 Điều 85 thì hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án cho ly hôn.

Hồ sơ yêu cầu giải quyết việc ly hôn trong trường hợp này bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn;

+ Bản chính giấy đăng ký kết hôn;

+ Bản sao hộ khẩu;

+ Bản sao chứng minh nhân dân của vợ và chồng ;

+ Bản sao giấy khai sinh của con chung;

+ Các giấy tờ chứng minh về tài sản ;

+ Các văn bản liên quan đến việc đang thụ án tù giam của vợ hoặc chồng (bản án, quyết định thi hành án phạt tù).

* Đối với giấy tờ, tài liệu là bản sao thì cần phải công chứng, chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền.

Nơi nộp hồ sơ:

Hồ sơ được nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người đang thi hành án tù (người vợ hoặc người chồng) cư trú, làm việc trước khi chấp hành hình phạt tù (trong trường hợp ly hôn không có yếu tố nước ngoài).

Trình tự giải quyết:

- Tòa án có thẩm quyền thụ lý đơn ly hôn của người chồng hoặc vợ và sau đó ủy thác cho Tòa địa phương - nơi có trại giam mà người vợ (hoặc chồng) đang thụ hình – để lấy lời khai, ý kiến của người này…vv;

- Tòa án sẽ tiến hành xử ly hôn vắng mặt người đang thụ án tù.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Luật sư – Công ty Luật Minh Khuê. Bạn nghiên cứu, tham khảo để áp dụng vào trường hợp của mình. Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án dân sự - hôn nhân - gia đình;

4. Đơn ly hôn có thể ký tại ủy ban nhân dân xã không ?

Chào luật sư Minh Khuê. Luật sư cho tôi hỏi là đơn thuận tình ly hôn có thể ký tại UBND xã mà không cần ra tòa án huyện được không? Quy trình và thủ tục như thế nào?
Xin cảm ơn.

Ly hôn khi không xác minh được nơi bị đơn cư trú?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Hồ sơ thuận tình ly hôn gồm:

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (Bản chính).

- Chứng minh thư nhân dân của vợ chồng (Bản sao có chứng thực).

- Giấy khai sinh của các con (Bản sao có chứng thực).

- Sổ hộ khẩu gia đình (Bản sao có chứng thực).

- Đơn yêu cầu thuận tình ly hôn theo mẫu. ( Hoặc đơn xin ly hôn đơn phương theo mẫu)

Nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp quận huyện nơi thường trú của một trong hai bên.

Đơn thuận tình ly hôn thì cần 2 vợ chồng ký vào, pháp luật khuyến khích hòa giải ở UBND xã. Tuy nhiên, việc giải quyết ly hôn phải được tiến hành ở Tòa qua các giai đoạn tố tụng mà không thể giải quyết tất cả các thủ tục ly hôn ở UBND được

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tòa án giải quyết thuận tình ly hôn theo trình tự như thế nào?

5. Có thể thực hiện thủ tục ly hôn tại nơi thường trú không ?

Thưa luật sư, Tôi muốn luật sư giải đáp cho tôi tình huống sau: Chị A và anh B đăng ký kết hôn ở Hà Nội, có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội. Do nhu cầu công việc, chị A và anh B đều làm việc ở Phú Thọ, nên đã đăng ký tạm trú ở Phú Thọ. Do có nhiều mâu thuẫn, chị A muốn ly hôn với anh B. Hỏi chị phải nộp đơn ly hôn ở đâu?

Có thể thực hiện thủ tục ly hôn tại nơi thường trú không?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự:

“a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;”.

Đồng thời căn cứ điều 8 nghị quyết 03/2012 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn Bộ luật TTDS: “Điều 8. Về quy định tại Điều 35 của BLTTDS

1. Về nguyên tắc chung thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của BLTTDS.

2. Trường hợp đương sự tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản thì có quyền yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết. Việc thỏa thuận đó không được trái với quy định tại Điều 33 và Điều 34 của BLTTDS.

Ví dụ: Trong vụ án, nguyên đơn A cư trú tại huyện M của tỉnh N và bị đơn B cư trú tại huyện X của tỉnh Y. Theo nguyên tắc Tòa án huyện X tỉnh Y nơi bị đơn B cư trú có thẩm quyền. Nếu các bên thỏa thuận Tòa án nơi nguyên đơn A cư trú thì phải bảo đảm thẩm quyền của cấp Tòa án. Nếu vụ án thuộc thẩm quyền Tòa án cấp huyện thì thỏa thuận chỉ được chấp nhận khi các đương sự thỏa thuận Tòa án huyện M của tỉnh N giải quyết. Nếu các đương sự thỏa thuận Tòa án tỉnh N giải quyết thì thỏa thuận đó không được chấp nhận.

3. Đối với tranh chấp về bất động sản quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 của BLTTDS thì chỉ có Tòa án nơi có bất động sản mới có thẩm quyền giải quyết.

4. Trong vụ án về hôn nhân và gia đình, thừa kế tài sản,... mà có tranh chấp về bất động sản thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án được xác định theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 35 của BLTTDS.

5. Việc xác định nơi cư trú, làm việc, nơi có trụ sở quy định tại Điều 35 của BLTTDS được xác định tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự.”

Như vậy, trong trường hợp của chị, nếu hai anh chị có tranh chấp về bất động sản thì toà án nơi có bất động sản sẽ là nơi thụ lý vụ án. Chị không được chọn tòa nào khác. Nếu chị có thể thỏa thuận với chồng chị nơi yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn mà anh B đồng ý, và hai anh chị không có tranh chấp gì về bất động sản thì chị có thể lựa chọn nơi chị cư trú là Hà Nội, hoặc nơi chị làm việc là Phú Thọ. Nếu anh B không đồng ý, thì chị phải nộp đơn tại tòa án nơi anh B cư trú.

Tham khảo văn bản pháp luật liên quan:

>> Tải Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11

>> Tải luật sửa đổi, bổ sung luật tố tụng dân sự năm 2011

Trân trọng./.

6. Sau khi ly hôn vẫn phải cùng trả nợ chung đã vay ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: "Các khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân mà đến nay hai bạn vẫn chưa trả xong thì pháp luật vẫn xác định đó là nghĩa vụ chung của hai bạn. Mỗi người phải có nghĩa vụ thanh toán một nửa số nợ". (Ngô Bảo Long, Hà Nam).

Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”.

Sau khi ly hôn vẫn phải cùng trả nợ chung đã vay

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Như vậy, với quy định nêu trên thì quyền sử dụng đất và ngôi nhà mà hai bạn xây dựng trong thời kỳ hôn nhân và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở được xác định là tài sản chung của vợ chồng.

Theo quy định tại khoản 6 Điều 27 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì tranh chấp về chia tài sản chung sau khi ly hôn là một trong những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, trong trường hợp hai bạn không thể thỏa thuận được về cách giải quyết vụ việc thì một trong hai bên đều có quyền nộp đơn khởi kiện ra tòa. Về nguyên tắc, nếu tài sản tranh chấp là bất động sản thì tòa án nơi có bất động sản đó có thẩm quyền giải quyết.

Về mặt pháp lý, sau khi ly hôn, hai bạn không còn là vợ chồng của nhau nữa nhưng những tài sản mà các bạn yêu cầu tòa án giải quyết và kể cả các khoản nợ được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn được hiểu là tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng nên việc chia tài sản chung sau ly hôn cũng áp dụng tương tự các quy định của pháp luật như chia tài sản khi ly hôn. Cụ thể, theo Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình thì việc chia tài sản phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Như vậy, với các quy định trên, nếu ngôi nhà của bạn quá nhỏ, không thể chia được thì tòa án sẽ xem xét, đánh giá khả năng và nhu cầu của các bên để giao ngôi nhà đó cho một bên. Bên được nhận nhà phải có nghĩa vụ thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch. Giá trị nhà và đất được xác định theo giá thị trường tại thời điểm tòa án giải quyết vụ việc.

Đối với các khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân mà đến nay hai bạn vẫn chưa trả xong thì pháp luật vẫn xác định đó là nghĩa vụ chung của hai bạn. Theo đó, mỗi người phải có nghĩa vụ thanh toán một nửa số nợ cho người cho vay, trừ trường hợp hai bạn và người đó có thỏa thuận khác.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê