Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

Người gửi : T. T. T. B

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân gia đình của công ty Luật Minh Khuê.

Ly hôn khi vợ bỏ đi khỏi địa phương ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Trả lời :

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý

Luật hôn nhân gia đình 2014 

Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 

Nội dung phân tích

Trong trường hợp này vợ con bạn bỏ đi 5 năm nhưng vẫn có tin tức cho nên thủ tục ly hôn được tiến hành như sau :

Căn cứ quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

" Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Như vậy, con bạn hoàn toàn có quyền thực hiện thủ tục ly hôn đơn phương 

Về thẩm quyền giải quyết ly hôn: 

Về nguyên tắc, Tòa án có thẩm quyền giải quyết đơn ly hôn của con bạn là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người vợ cư trú, làm việc. 

Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 quy định "a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;".

Con bạn không biết nơi cư trú của vợ vì vậy, con bạn làm đơn gửi xã, phường nơi trước đây vợ cư trú để được xác nhận đương sự đã bỏ đi quá 6 tháng. Sau đó con bạn làm đơn gửi tòa án nơi vợ cư trú trước đây kèm theo giấy xác nhận của xã, phường yêu cầu tòa án tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú (với điều kiện người vợ đã bỏ đi quá 6 tháng và không biết ở đâu). Toà án sẽ ra quyết định, thông báo tìm kiếm.

Trong trường hợp không tìm thấy địa chỉ của vợ có thể nộp tại nơi vợ thường trú trước đây để nhận được sự hỗ trợ tốt nhất. Khi đó, Tòa án phải thực hiện thủ tục niêm yết công khai để triệu tập bị đơn theo quy định tại khoản 2, khoản 3, Điều 154 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Nếu Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vợ cố tình không có mặt thì tòa lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 quy định như sau :

“Điều 199. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Toà án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên toà.

2. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên toà, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

b) Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Toà án quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.”.

Tòa triệu tập đến lần thứ 2 mà người vợ vẫn vắng mặt thì Tòa án xét xử ly hôn vắng mặt vợ.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. 

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÔN NHÂN