Từ đó tôi chỉ làm công việc sổ sách của nhà và trông con. việc lo kinh tế phụ thuộc vào chồng. tôi biết chồng tôi có tính lăng nhăng lại thường xuyên công tác vắng nhà nhưng tôi bỏ qua vì khuất mắt coi như không biết. Quan trọng là anh vẫn lo cho vợ con. Nhưng gần đây tôi thấy anh dẫn gái đi nhà nghỉ còn quay lại video trong điện thoại nên tôi không thể chấp nhận được việc tôi suốt ngày ở nhà chăm con chồng như một con ô sin phải nín nhịn bao chuyện vì không dám lớn tiếng với con chồng để cho chồng ra ngoài vui vẻ với người khác như vậy.

Nhưng hiện tại trước mắt thì tôi không có công việc riêng nào kiếm ra thu nhập vậy tôi lo lắng là nếu ly hôn thì tôi có được nuôi đứa con chung không. Mong luật sư giúp đỡ. Không biết chi phí để ly hôn là khoảng bao nhiêu và như thế nào. Vợ cũ trước kia của chồng tôi đã phải ra đi 2 bàn tay trắng vì chồng tôi đã làm thế nào đó mà tài sản chung không có gì hết. Thực tế hiện nay thì nhà riêng của chúng tôi sống chồng tôi cũng để cho em trai đứng tên chứ không phải vợ chồng tôi. Tôi nhiều lần nhắc anh làm lại sổ đỏ nhưng anh không làm với lý do đứng tên nhỡ làm ăn thua lỗ thì mất cả nhà. Cho tới nay người đứng đầu công ty cũng như tài sản công ty chồng tôi cũng chuyển hết sang cho em trai. Giờ tôi phải làm sao thưa luật sư?

Người gửi: N.V.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật hôn nhân của công ty luật Minh Khuê.

Ly hôn khi vợ chồng hai bàn tay trắng ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gọi: 1900.6162      

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội

Nội dung tư vấn:

Về chi phí ly hôn 

Hiện nay theo quy định của pháp luật thì án phí ly hôn được tính như sau: 

- Đối với trường hợp không có tranh chấp tài sản thì mức án phí dân sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

- Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch:

 Giá trị tài sản có tranh chấp

Mức án phí

   a) Từ 4.000.000 đồng trở xuống

200.000 đồng

 b) Từ trên 4.000.000 đồng đến      400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

  c) Từ trên 400.000.000 đồng đến    800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

 d) Từ trên 800.000.000 đồng đến  2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh  chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Về vấn đề tài sản

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng sẽ được xác định như sau:

"Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Như vậy, trong trường hợp của bạn, dù bạn chỉ ở nhà và không trực tiếp tạo ra thu nhập nhưng những tài sản mà chồng bạn tạo ra trong thời kì hôn nhân sẽ được coi là tài sản chung và được đem ra chia nếu hai người có nhu cầu chia tài sản chung hoặc chia tài sản khi ly hôn. Nếu như chồng bạn chuyển hết tài sản chung trong thời kì hôn nhân sang cho em trai thì bạn có thể tiến hành một số biện pháp sau đây để bảo vệ quyền và lợi ích cho mình:

- Tìm kiếm các bằng chứng cho thấy tài sản mà chồng bạn đã chuyển nhượng là tài sản anh ta tạo ra trong thời kì hôn nhân của hai người.

- Yêu cầu tòa án tuyên bố các giao dịch chuyển nhượng giữa chồng bạn và em trai là vô hiệu do vi phạm các điều kiện về chủ thể theo điều 122 Bộ luật Dân sự 2005 ( trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung nên chồng bạn không được tự ý chuyển nhượng nếu không được sự đồng ý của bạn).

Về vấn đề nuôi con chung,

Tuy hiện nay bạn chưa có công việc ổn định tuy nhiên bạn có thể tìm kiếm công việc tạo ra thu nhập đồng thời sau khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, bạn cũng sẽ có một lượng tài sản nhất định để đảm bảo cuộc sống cho hai mẹ con. Bạn cần chứng minh trước Tòa khả năng nuôi con và đảm bảo cuộc sống cho con của mình. Đồng thời theo quy định tại điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

"Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Hai con của bạn đều dưới 36 tháng tuổi nên về nguyên tắc sẽ do bạn trực tiếp nuôi trừ khi người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ