1. Ly hôn tại nước ngoài đối với người Việt Nam có được không?

Thưa luật sư tôi có một thắc mắc mong luật sư giải đáp sau ạ:Tôi và vợ tôi xa nhau được 11 năm, cô ấy bỏ ra nước ngoài sống ( Mỹ ).Mới đây tôi qua My du lịch và đã ở Mỹ 9 tháng nhưng cũng từ đây vợ chồng sống với nhau không được hạnh phúc.cãi vã rất nhiều. 

Chúng tôi đã đi đến quyết định không ở cùng nhau nữa và ly thân 3 tháng,Nay sự gắn kết hòa hợp không có tình cảm rãn nứt không thể gắn lại.Chúng tôi luốn ly hôn.Tuy nhiên cô ấy không chịu về Việt Nam ly hôn mà chỉ đồng ý ly hôn tại Mỹ.Vậy chúng tôi có thể ly hôn tại Mỹ không ạ.Thủ tục như thế nào ạ.Chúng tôi có với nhau hai con một đứa 23 tuổi đứa kia 21 tuổi chúng cũng đồng ý cho chúng tôi ly hôn.Chúng tôi vẫn có hộ khẩu tại Việt Nam.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi:.T.M.P

 

Luật sư tư vấn luật hôn nhận về ly hôn và quyền nuôi con, gọi:1900 6162

Trả lời:

Theo điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về Ly hôn có yếu tố nước ngoài:

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

Như vậy, có hai trường hợp sau:

TH1: Vợ chồng bạn không chung có nơi thường trú tại nước sở tại thì yêu cầu ly hôn sẽ được tiến hành theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ luật tố tụng dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo quy định tại Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (Sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của bạn sẽ là Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi bạn hoặc chồng bạn thường trú trước đây.

Trình tự, thủ tục giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài:

- Hồ sơ ly hôn có yếu tố nước ngoài gồm: Giấy chứng nhận kết hôn: Giấy chứng nhận kết hôn bản gốc. Nếu không có giấy chứng nhận kết hôn bản gốc có thể thay thế bằng bản sao do chính cơ quan nhà nước nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn cấp; Giấy khai sinh của các con (nếu có). Giấy tờ của bên có quốc tịch Việt Nam gồm: Bản sao chứng thực CMND; Bản sao chứng thực hộ khẩu. Giấy tờ của bên có quốc tịch nước ngoài gồm: Bản sao hộ chiếu hoặc visa đã được hợp pháp hóa lãnh sự; Đơn xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết ly hôn tại tòa án Việt Nam đã được hợp pháp hóa lãnh sự. Đơn xin ly hôn: Đơn xin ly hôn do bên không có quốc tịch Việt Nam làm và thực hiện hợp pháp hóa lãnh sự rồi chuyển về cho bên có quốc tịch Việt Nam ký. Về tài sản chung và con chung hai bên có thể tự thỏa thuận giải quyết hay yêu cầu tòa giải quyết và ghi rõ trong đơn xin ly hôn.

- Nơi nộp hồ sơ: TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đương sự thường trú hoặc tạm trú.

- Thời gian giải quyết: theo quy định của Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thời gian chuẩn bị xét xử vụ án ly hôn tối đa là 4 tháng, nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì được gia hạn nhưng không quá 2 tháng. Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng, thời hạn này là 2 tháng. Trong thực tế, thời gian giải quyết vụ án ly hôn có thể ngắn hơn hoặc kéo dài hơn thời gian mà luật qui định tùy thuộc vào tính chất của từng vụ án.

TH2: Các bạn có nơi thường trú chung ở nước sở tại thì có thể yêu cầu cơ quan cấp có thẩm quyền nước sở tại giải quyết. Sau đó có thể tiến hành thủ tục theo quy định pháp luật Việt Nam để yêu cầu công nhận việc ly hôn đã được tiến hành ở nước ngoài.

>> Xem ngay:  Thủ tục ly hôn với người nước ngoài thực hiện như thế nào ? Thời gian giải quyết ly hôn bao lâu ?

2. Thủ tục ly hôn khi chồng đang ở nước ngoài không có mặt ở Việt Nam như thế nào ?

Thưa luật sư! Chúng tôi đã kết hôn 5 năm (từ 2011). Sau khi kết hôn được 1 tháng thì chồng tôi đi nước ngoài làm việc cho đến bây giờ chưa về. Chúng tôi chưa có con. Cũng không có tài sản chung trong 5 năm kết hôn cho đến hiện tại cũng không xảy ra cãi vã hay tranh luận gì. Nhưng dạo gần đây sau khi biết được chông tôi o bên nước ngoài có quan hệ với người con gái khác lên không muốn về nước. Dù gia đình đã thuyết phục rất nhiều.nay tôi muốn làm đơn ly hôn. Vậy tôi cần chuẩn bị những giấy tờ gì và tôi có được chập nhận ly hôn không khi ma chồng tôi không có mặt ở việt nam?
Xin văn phòng luật tư vấn!

Thủ tục ly hôn khi chồng đang ở nước ngoài không có mặt ở Việt Nam như thế nào ?

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hôn nhângọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định :

Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

-  Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi năm 2011 quy định :

"Điều 202. Xét xử trong trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên toà
Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:
1. Nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt;
2. Nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có người đại diện hợp pháp tham gia phiên toà;
3. Các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 200 và khoản 2 Điều 201 của Bộ luật này."

Hồ sơ ly hôn đơn phương bao gồm:       

- Đơn xin ly hôn đơn phương

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng có chứng thực.

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng có chứng thực.

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giầy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở…

- Bản sao giấy khai sinh của các con có chứng thực (nếu có).

2. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Theo quy định tại các điều 27, 34, 35 và điều 410 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, thì thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn trong trường hợp một bên đương sự đang ở nước ngoài và một bên ở Việt Nam thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi bị đơn cư trú.

>>  Như vậy, khi chồng bạn vắng mặt và có đơn yêu cầu đề nghị giải quyết vụ án dân sự không có sự tham gia của chồng bạn thì Tòa án  vẫn giải quyết việc dân sự khi một bên vắng mặt  theo quy định của pháp luật.

>> Tham khảo bài viết liên quan:  Vợ ly hôn đơn phương khi chồng đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài?

 

3. Chồng đang làm việc ở nước ngoài có ly hôn được không ?

Thưa luật sư! Hiện nay, tôi đang muốn ly hôn với chồng tôi nhưng chồng tôi hiện đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài ( thời hạn 2 năm, chồng tôi chưa có thẻ xanh và hộ khẩu thường trú vẫn đang ở Việt Nam). Tôi xin hỏi trường hợp của tôi có thể nộp đơn ly hôn lên Tòa án cấp quận nơi chồng tôi có hộ khẩu thường trú được không và hồ sơ nộp gồm những giấy tờ, tài liệu gì? Xin chân thành cảm ơn.

Chồng đang làm việc ở nước ngoài có ly hôn được không ?

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hôn nhângọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định :

Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

- Hồ sơ ly hôn đơn phương bao gồm:       

- Đơn xin ly hôn đơn phương

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng có chứng thực.

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng có chứng thực.

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giầy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở…

- Bản sao giấy khai sinh của các con có chứng thực (nếu có).

2. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Theo quy định tại các điều 27, 34, 35 và điều 410 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, thì thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn trong trường hợp một bên đương sự đang ở nước ngoài và một bên ở Việt Nam thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi bị đơn cư trú.

>> Như vậy, bạn phải nộp đơn ly hôn lên tòa án nhân dân tỉnh nơi chồng bạn cư trú theo quy định của pháp luật.

>> Tham khảo bài viết liên quan:  Thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài như thế nào?

4. Thủ tục ly hôn khi chồng đang làm việc ở nước ngoài như thế nào ?

Thưa luật sư! Hiện nay, tôi đang muốn ly hôn với chồng tôi nhưng chồng tôi hiện đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài ( thời hạn 2 năm, chồng tôi chưa có thẻ xanh và hộ khẩu thường trú vẫn đang ở Việt Nam). Tôi xin hỏi trường hợp của tôi có thể nộp đơn ly hôn lên Tòa án cấp quận nơi chồng tôi có hộ khẩu thường trú được không và hồ sơ nộp gồm những giấy tờ, tài liệu gì? Xin chân thành cảm ơn.

Thủ tục ly hôn khi chồng đang làm việc ở nước ngoài như thế nào ?

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hôn nhângọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định :

Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

- Hồ sơ ly hôn đơn phương bao gồm:       

- Đơn xin ly hôn đơn phương

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng có chứng thực.

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng có chứng thực.

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giầy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở…

- Bản sao giấy khai sinh của các con có chứng thực (nếu có).

2. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Theo quy định tại các điều 27, 34, 35 và điều 410 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, thì thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn trong trường hợp một bên đương sự đang ở nước ngoài và một bên ở Việt Nam thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi bị đơn cư trú.

Như vậy, bạn phải nộp đơn ly hôn lên tòa án nhân dân tỉnh nơi chồng bạn cư trú theo quy định của pháp luật.

>> Tham khảo bài viết liên quan:  Thủ tục ly hôn khi chồng đang ở nước ngoài như thế nào?

5. Tư vấn ly hôn, phân chia tài sản có yếu tố nước ngoài ?

Kính thưa luật sư! Bạn trai tôi là người Malaysia, trước khi biết tôi đã quen và sống như vợ chồng với một người con gái Việt Nam khác, thời gian kéo dài cũng gần một năm rưỡi thì họ mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại đại sứ quán Malaysia vào khoản tháng 6 năm 2014. 

Được biết chị này ( vợ bạn trai ) đã có 2 đời chồng và một đứa con gái ở Việt Nam trước khi qua Malaysia và gặp anh này.  Biết thêm chị này vẫn chưa ly hôn ở Việt Nam sau khi gặp anh này ( cố gắng tìm cách ly hôn ). Thời gian đầu họ sống cũng vui vẻ , bạn trai tôi chu cấp tiền và tất cả mọi thứ cho vợ gửi về Việt Nam số tiền lên cũng lớn gần 1 tỷ rưỡi Việt Nam . Và hàng tháng gửi về cho con chị này là 2000RM tuong đương 12 triệu đồng . Chị này thường xuyên về Việt Nam chơi mỗi khi thấy buồn , vì không đi làm , 1 năm về 4 hoặc 5 lần chi phí bạn trai lo hết . Nhưng tới đầu năm 2014 chị này nói với chồng lên thành phố khác để đi làm vì không chịu nổi cảnh ở nhà một mình cả ngày. Phần vì thương và cũng thông cảm cho vợ ? cộng thêm chị ta đã quết tâm , nên bạn trai tôi không có ý kiến . Chị ở lại đó và mỗi tuần về nhà thăm 2 ngày cuối tuần Đến khoản tháng 6 năm 2014 thì chị được cấp visa tại Malaysia và có giấy kết hôn với bạn trai tôi bây giờ . kể từ đó tình cảm của hai người cũng dần phai nhạt . , hay cải nhau hơn ... được biết là chị này nhiều lần xin tiền để hùn hạp với bạn làm ăn hoặc nói cho bạn ở Việt Nam mượn , nhưng không thấy trả lại cũng chẳng nghe nhắc đến . Họ còn cãi nhau với những lý do khác như là anh này đi làm về trễ vì phải gặp khách hàng để nhận orther ( công việc của anh này là gia công cửa ) Được biết thêm là gia đình của bạn trai tôi không ai thích chị này , vì sau khi quen bạn trai tôi được mấy tháng thì chị về Việt Nam làm phẫu thuật bộ ngực. Từ đó lúc nào cũng ăn bận sexy hở hang chụp hình rồi pot lên Facebook .

Cộng thêm việc chị bỏ chồng ở nhà một mình để lên thành phố khác làm , gia đình của bạn tôi không đồng ý. Từ lúc đó bạn trai tôi không còn tình cảm như trước nữa nhưng vẫn chu cấp đầy đủ như ăn uống , mua sắm , gửi về Việt Nam 12 triệu đồng vào mỗi tháng. Vẫn ngủ chung nhưng ít gần gủi hơn đến khoản 3 tháng sau thì chấm dứt không quan hệ luôn . Bạn trai tôi thường hay ra sofa ngủ mấy ngày chị này về nhà .Cho tới giữa tháng 12 năm 2014 thì tôi và bạn trai gặp nhau trong chuyến đi thăm người bạn có chồng ở Malaysia . Chỉ trong vòng 1 tuần cả hai đã yêu vì sự quan tâm ,thật thà không nói sạo của anh .Tôi đã ở đó với anh trong những ngày vợ anh về Việt Nam ăn tết cho tới bây giờ .Anh cũng đã nhờ một công ty làm cho tôi visa giúp việc nhà tại đây thời hạn một năm .Anh đã mướn một căn nhà khác để hai đứa sống , còn nhà cũ thì bà nội anh đã bán , nó không thuộc quyền sở hữu của anh . Vợ anh từ khi về Việt Nam ăn tết đến nay chỉ trở lại Malaysia một lần vào khoảng 2 tháng trước trong chuyến đi Singapore du lịch của chị ấy.  Chị ta không biết gì về tôi và căn nhà mới. Chị nghĩ bạn trai tôi về nhà mẹ ruột ở, nên chỉ kêu bạn tôi mang hết đồ về Việt Nam , vì không thích ở chung bên chồng. Bạn trai tôi vẫn chu cấp tiền hàng tháng cho chị ở Việt Nam nhưng ít hơn trước khoản 6 triệu đến 9 triệu để chị sinh hoặt . Không phải vì có tôi mà anh ấy chu cấp ít hơn , mà là gì thời gian trước số tiền cho vợ gửi về Việt Nam là mượn từ nhiều người với hình thức trả hàng tháng , không chỉ tiền đó bay giờ có thêm tiền nhà tiền góp 2 chiếc xe một ô tô , một tải để thuận tiện làm việc , hàng tháng thêm nhiều chi phí khác . Cách đây 3 tuần anh có gửi đơn xin ly hôn đơn phương , vì chị này đòi thêm tiền , nếu không cho thì nt nói này nói nọ . Anh được tư vấn tìm cách để chị này ở bên Việt Nam thêm 3 tháng kể từ ngày anh nạp đơn thì sẽ được giải quyết theo đơn . nhưng hôm nay tôi phát hiện trên trang Facebook của chị ấy bảo sắp qua rồi nhưng chưa biết khi nào . Nên trong lòng tôi và bạn trai tôi rất hoang mang ... chắc chị đã nghe được hoặc biết gì về tụi tôi . Nay tôi muốn hỏi luật sư nếu chị ấy quay trở lại đây và phát hiện ra tụi tôi sống chung , nhưng không đồng ý ly hôn hoặc làm đơn tố cáo bạn tôi.

Vậy bạn tôi sẽ chịu trách nhiệm gì ? và bạn tôi vẫn muốn ly hôn thì có phải chia tài sản cho chị ấy không ? visa của chị ấy có thời hạn 2 năm , khi hết thời hạn rồi không gia hạn lại cũng có nghĩa là chị ấy không thể ở đây đúng không ? theo luật sư tụi tôi nên làm gì để giải quyết tốt và nhanh nhất? ( trong tài khoản của bạn tôi không còn tiền như trước , và đang đối mặt với nhiều khoản nợ ) Rất mong nhận được hồi âm của luật sư.

Tôi chân thành cảm ơn !

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900 6162.

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 19006 162

 

Trả lời:

Chào chị! Trước hết chúng tôi xin cảm ơn sự tin tưởng chị đã giành cho công ty. Về vấn đề của chị, chúng tôi tư vấn như sau:

Trước hết, về vấn đề của chị, bạn trai chị là người  có quốc tịch Malaysia và vợ anh ta là người mang quốc tịch Việt Nam. Theo quy định tại \ tại điểm g khoản 2 Điều 410 và điểm c khoản 1 Điều 411 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam. Như vậy, trường hợp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam và có thể áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết (bởi hiện nay Việt Nam và Malaysia chưa ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự).

1. Chị hỏi về việc bạn trai chị có thể phải chịu trách nhiệm gì đối với những hành vi của anh?

Xét về điều kiện kết hôn của bạn trai chị và vợ người này: vì chị không nêu rõ vào thời điểm tháng 6/2014 (vợ của bạn trai chị được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn với bạn trai chị) thì người này đã ly hôn vời người chồng cũ ở Việt Nam chưa. Việc xác định rõ điều này rất quan trọng, bởi nó quyết định việc kết hôn giữa bạn trai chị và người đó có bị coi là trái pháp luật hay không, hậu quả pháp lý phát sinh là khác nhau. Vì vậy, chúng tôi cần phân ra 2 trường hợp:

-- Trường hợp vợ của bạn trai chị chưa ly hôn với chồng cũ ở Việt Nam trong thời điểm đăng ký kết hôn với bạn trai chị:

Vì theo quy định tại Điều 126 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định: "Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn..." Bởi vậy, dù đăng ký kết hôn ở Malaysia, thì "vợ cũ" của bạn trai chị cũng cần phải tuân theo pháp luật Việt Nam

Việc kết hôn với người đã có chồng/vợ thuộc vào điều cấm của pháp luật Việt Nam (tại điểm c, khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau: Cấm các hành vi sau:

......

 c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ"). 

 Như vậy, việc kết hôn trái pháp luật của bạn trai chị và vợ anh ta không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ chịu sự điều chỉnh của Luật hôn nhân & gia đình, thì việc chị và anh ta sống chung với nhau không vi phạm điều cấm của luật, bạn trai chị cũng không phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

- Trường hợp vợ của bạn trai chị đã đáp ứng đủ điều kiện kết hôn (thời điểm đăng ký kết hôn đã ly hôn với chồng cũ ở Việt Nam) thì việc bạn trai chị và chị chung sống với nhau là vi phạm pháp luật. Đối với hành vi này, bạn trai chị có thể bị xử phạt hành chính từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng (Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã). Ngoài ra, căn cứ theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, được sửa đổi năm 2009 thì hành vi của bạn trai chị còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 147 Bộ luật này, theo đó:

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết
hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

 

2. Tư vấn giải quyết đối với trường hợp của chị:

- Trường hợp 1: bạn trai chị và vợ anh ta thuộc trường hợp không đủ điều kiện kết hôn: Chị hoặc bạn trai chị có thể làm đơn yêu cầu Hủy kết hôn trái pháp luật đến cơ quan có thẩm quyền: Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi chị kia đăng ky thường trú tại Việt Nam, hoặc tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chị kia đăng ký thường trú (Trường hợp này được quy định tại  Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành những quy định trong “Phần thứ nhất” Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 như sau:

“4.1. Đương sự ở nước ngoài bao gồm:

a) Đương sự là cá nhân không phân biệt là người nước ngoài hay người Việt Nam mà không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự; đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài hoặc người nước ngoài không ở Việt Nam có mặt tại Việt Nam để nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự hoặc đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án.

Đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha, mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam, thì theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của Luật hôn nhân và gia đình là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam."

- Trường hợp 2: bạn trai chị và vợ thuộc diện kết hôn hợp pháp thì bạn trai chị có thể: 

+ Thỏa thuận với anh ta về việc ly hôn (được tiến hành theo thủ tục thuận tình ly hôn)

+ Nếu trường hợp vợ anh ta không đồng ý thì tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương như sau:

Theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn” và “Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án xem xét, giải quyết việc ly hôn”. Tòa án xem xét, quyết định cho ly hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

- Tình trạng của vợ chồng trầm trọng;

- Đời sống chung không thể kéo dài;

- Mục đích của hôn nhân không đạt.

Nếu một bên vợ hoặc chồng đơn phương xin ly hôn, thì thủ tục ly hôn theo yêu cầu của một bên được tiến hành theo các bước sau:

- Bước 1: Nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền (

- Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí;

- Bước 3: Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;

- Bước 4: Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và ra Bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án.

Theo đó, hồ sơ khởi kiện xin ly hôn bạn trai chị có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường Bưu điện gồm có các giấy tờ sau đây:

- Đơn xin ly hôn (theo mẫu);

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính); Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì bạn phải xin xác nhận của UBND cấp tỉnh nơi đã đăng ký kết hôn.

- Sổ hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân (bản sao chứng thực);

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung

3. Về vấn đề chia tài sản

- Trường hợp 1: Vì là bạn trai chị và vợ kết hôn không được sự thừa nhận của nhà nước nên việc chia tài sản không phải áp dụng, tức là tài sản của bạn trai chị trước, trong và sau khi sống cùng chị kia thì vẫn sẽ là của anh ấy;

- Trường hợp 2: Bạn trai chị và vợ anh kết hôn hợp pháp thì theo của Luật hôn nhân gia đình năm 2014: Việc chia tài sản chỉ tiến hành đối với tài sản chung, Tuy nhiên, theo như trường hợp của chị: nếu chị và bạn trai chị chứng minh mọi tài sản hiện có của bạn trai chị là tài sản riêng của anh ấy từ trước khi kết hôn với chị kia, hoặc phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nhưng không có sự đóng góp của chị kia thì việc chia tài sản chung cũng sẽ không phải tiến hành, vì pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam xác định “. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung". (Theo như trường hợp mà chị đã nêu thì có thể thấy vợ của bạn trai chị hoàn toàn không tham gia vào quá trình tạo tài sản chung)

Trên đây là tư vấn của chúng tôi đối với trường hợp của bạn. Cảm ơn sự tin tưởng của bạn đối với công ty.

>> Xem ngay:  Đang làm việc ở nước ngoài muốn ly hôn thì phải làm thế nào?

6. Tư vấn về kháng cáo bản án ly hôn có yếu tố nước ngoài ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Vợ cũ của tôi email cho tôi bản án sơ thẩm về việc ly hôn ngày 5/5/2015. Tôi ở Mỹ vẫn chưa nhận được bản án của tòa, nhưng trong bản án sơ thẩm, có ghi thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. 

Tôi muốn hỏi là, nếu tôi không nhận được qua đường bưu điện, thì tòa có ra quyết định chính thức không sau khi quá 15 ngày, từ ngày vợ cũ nhận quyết định? Nếu tôi nhận được bản án, tôi chỉ chờ 15 ngày, thì tòa sẽ ra quyết định, hay là tôi phải làm đơn cam kết không kháng cáo có hợp thức hóa lãnh sự?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: L.H

Tư vấn về kháng cáo bản án ly hôn có yếu tố nước ngoài ? 

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900 6162

Trả lời:

Chào anh! Cảm ơn anh đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Về vấn đề mà anh thắc mắc chúng tôi xin được giải đáp như sau:

"Điều 245. Thời hạn kháng cáo (Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2004)
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Toà án cấp sơ thẩm là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm là bảy ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.
3. Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì."

Theo như quy định trên, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết tại UBND cấp xã nơi đương sự cư trú. Tuy nhiên, trong trường hợp của anh, hiện anh đang cư trú ở nước ngoài nên Tòa án sẽ không thực hiện việc niêm yết hoặc giao cho anh. Mà trong trường hợp này, theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm" của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật tố tụng dân sự thì: 

"4. Thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị là thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn. Nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần (thứ bảy, chủ nhật) hoặc ngày nghỉ lễ, thì thời hạn kháng cáo, kháng nghị kết thúc vào lúc hai mươi tư giờ của ngày làm việc đầu tiên tiếp theo ngày nghỉ đó.

Ví dụ: Thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày được tính bắt đầu từ ngày 02-10-2013. Theo quy định tại khoản 1 Điều 245 của BLTTDS, thì thời hạn kháng cáo mười lăm ngày (đối với đương sự có mặt tại phiên toà) kết thúc vào lúc hai mươi tư giờ ngày 16-10-2013 (nếu không đúng vào ngày nghỉ cuối tuần, ngày nghỉ lễ). Giả sử, ngày 16-10-2013 là ngày nghỉ lễ, thì thời hạn kháng cáo mười lăm ngày kết thúc vào lúc hai mươi tư giờ ngày 17-10-2013 (nếu không đúng vào ngày nghỉ cuối tuần); giả sử sau ngày nghỉ lễ (17-10-2013), ngày 18-10-2013 đúng vào ngày thứ bảy, thì thời hạn kháng cáo mười lăm ngày kết thúc vào lúc hai mươi tư giờ ngày 20-10-2013.

Trường hợp Tòa án phải tiến hành ủy thác tư pháp để tống đạt bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm cho đương sự đang cư trú ở nước ngoài thì thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị là ngày nhận được ủy thác tư pháp, ngày nhận được ủy thác tư pháp được xác định theo quy định của pháp luật về ủy thác tư pháp"

Theo như quy định trên, thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo là ngày anh nhận được ủy thác tư pháp. Như vậy, trong trường hợp này, kể từ ngày anh nhận được ủy thác tư pháp từ cơ quan có thẩm quyền của nước mà anh cư trú, nếu đến hết hai tháng mà anh không có đơn kháng cáo thì bản án sơ thẩm của Tòa án sẽ có hiệu lực, còn nếu anh có kháng cáo (nếu gửi qua đường bưu điên thi ngày tính sẽ là ngày đóng dấu trên phong bì) thì Tòa án sẽ xem xét đơn kháng cáo của anh. 

Trong trường hợp nếu anh muốn bản án ly hôn sớm có hiệu lực thì anh có thể làm đơn cam kết không kháng cáo. Đơn này phải được công chứng và hợp pháp hóa lãnh sự: anh làm đơn cam kết không kháng cáo phải có công chứng của công chứng viên tại nước anh đang cư trú, sau đó gửi đến Lãnh sự quán của Việt Nam tại nước này để hợp pháp hóa lãnh sự, sau đó anh gửi về Việt Nam. Đến lúc này, ngay sau khi nhận được đơn cam kết của anh, Tòa án sẽ cấp bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi đối với vấn đề mà anh thắc mắc. Cảm ơn anh đã tin tưởng và chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận Tư vấn Luật Hôn nhân và Gia đình - Công ty luật Minh Khuê