Sau đây tôi xin luật sư hãy bớt chút thời gian tư vấn giúp cho chị gái tôi đang có một vấn đề khá khó khăn và chưa tìm đc lối đi. Chị tôi sinh năm 77 năm 2005 chị kết hôn và được nhà chồng cho hai vợ chồng một mảnh đất. Khi làm sổ đỏ sang tên thì hai vợ chồng anh chị tôi đứng tên chủ sở hữu mảnh đất đó. Đến năm 2010 anh chị tôi xây nhà trên mảnh đất đó, sau khi xây nhà xong, chồng chị tôi đã bị bắt vì can án ma túy.

Khi chồng chị tôi bị bắt thì với biết chồng chị ấy đã mang sổ đỏ đi Cầm Đồ để lấy một khoản tiền là 175 triệu. Sau khi chồng chị tôi bị bắt thì bên Cầm Đồ đến ép chị tôi trả nợ và chị tôi phải bán mảnh đất và căn nhà đó với giá 600triệu. Cầm 600triệu trong tay, chị tôi đã trả cho bên Cầm Đồ cả vốn lẫn lãi là 300triệu. Số còn lại chị tôi và chồng chị ấy gửi mẹ chồng chị ấy (mẹ chồng ở cùng vợ chồng chị tôi) để chờ thời cơ mua mảnh đất khác để lấy chỗ cho gia đình ở.

Nhưng từ năm 2011 đến nay, chồng chị tôi và mẹ chồng chị ấy đã tự ý thanh toán hết số nợ của chồng chị tôi mà ko thông qua chị tôi. Đến nay, chị tôi quyết định gửi đơn ra tòa án xin ly hôn thì mẹ chồng chị ấy nói rằng số tiền 300triệu còn lại đã thanh toán công nợ hết rồi.( việc này chị tôi ko được thông qua) Vậy tôi xin luật sư tư vấn giúp việc làm của mẹ chồng chị tôi là đúng hay sai? Khi tòa giải quyết ly hôn thì số phận tài sản còn lại đó sẽ ra sao? Và luật sư có phương án nào để chị tôi đc hưởng phần quyền lợi của mình? ( vợ chồng chị tôi đã có một đứa con, hiện nay đang tạm sống với chị tôi)

Thay mặt gia đình tôi chân thành cảm ơn luật sư và mong sớm nhận đc hồi âm của luật sư!

Người hỏi: Mạnh Nguyễn

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật hôn nhân của Công ty Luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2. Nội dung phân tích:

Về yêu cầu xin ly hôn:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.

Trường hợp hai vợ chồng chị bạn thuận tình li hôn Tòa án sẽ căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 để giải quyết

Điều 55. Thuận tình li hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Trường hợp, chị bạn hoặc chồng của chị bạn đưa ra yêu cầu ly hôn Tòa án sẽ căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 để giải quyết

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Có thể thấy rằng, trong trường hợp của chị bạn số tiền 300 triệu còn lại sau khi đã thanh toán nợ cho chồng được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt với số tiền đó do vợ chồng thỏa thuận. Bởi vậy, việc mẹ chồng dùng số tiền đó để thanh toán khoản nợ khi chưa có sự đồng ý của chị bạn là trái với quy định của pháp luật. Vậy nên, mẹ chồng của chị bạn có nghĩa vụ thanh toán số tiền 300 triệu đó cho 2 vợ chồng chị bạn. Số tiền đó được giải quyết theo:

Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê