1. Ly hôn với người bỏ nhà đi biệt tích ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Vợ tôi bỏ nhà đi biệt tích từ năm 2006. Nay tôi muốn ly hôn thì tòa án không giải quyết mà yêu cầu phải làm thủ tục đề nghị tuyên bố vợ tôi mất tích. Xin hỏi yêu cầu như vậy có đúng không?
(Minh Thành, Kiên Giang)

Một số mẫu văn bản áp dụng cho thủ tục ly hôn

1 Mẫu đơn xin ly hôn;

2. Mẫu đơn thuận tình ly hôn;

3. Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương;

4. Mẫu giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng;

.Tư vấn Ly hôn với người bỏ nhà đi biệt tích ?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trước đây, đối với các trường hợp xin ly hôn với người mất tích, tòa án có thể giải quyết tuyên bố mất tích và ly hôn trong cùng một vụ án. Tuy nhiên kể từ 1/1/2005 (ngày Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành) trở đi thì tòa án không thụ lý và giải quyết mất tích và ly hôn trong cùng một vụ án nữa mà phải tách riêng, vì luật mới quy định đây là hai thủ tục riêng biệt.

Để ly hôn với người vợ đã bỏ đi biệt tích, anh phải làm đơn gửi đến toà án quận, huyện nơi anh đang cư trú để yêu cầu toà án tuyên bố người đó mất tích. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là chứng cứ để chứng minh vợ anh đã biệt tích hai năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết và chứng minh cho việc anh đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm. Anh có thể làm đơn yêu cầu công an phường xác nhận việc này và nếu đã xóa hộ khẩu thì phải xác nhận đã xóa từ thời điểm nào để tòa án làm căn cứ tuyên bố mất tích.

Sau khi thụ lý, tòa án sẽ ra quyết định thông báo tìm kiếm người mất tích trên báo của trung ương trong 3 số liên tiếp và đài phát thanh hoặc đài truyền hình trung ương 3 lần trong 3 ngày liên tiếp. Sau 4 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên mà vợ anh không trở về hoặc có tin tức báo về thì tòa án sẽ họp xét đơn yêu cầu tuyên bố công dân mất tích của anh.

Sau khi có quyết định của tòa án tuyên bố vợ anh mất tích, anh mới có thể làm đơn xin ly hôn với vợ.

Trân trọng./.

2. Thủ tục thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn ?

Xin chào luật sư. Em có điều muốn hỏi về thay đổi quyền nuôi con sau khi ly hôn. Hiện nay, con em được 2 tuổi, lúc ly hôn thì con em do vợ trực tiếp nuôi dưỡng, hàng tháng em vẫn cấp dưỡng tiền để nuôi con nhưng vợ em lại mang số tiền cấp dưỡng đó đi gửi tiết kiệm.

Và hiện nay, vợ em không có công việc làm ổn định. Chỉ dựa vào điểm này em có thể giành quyền trực tiếp nuôi con không? Nếu được thì em cần những giấy tờ gì?

Em xin cảm ơn !

Thủ tục thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ."

Dựa vào quy định trên, bạn có thể viết đơn yêu cầu gửi đến tòa án để thay đổi người trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên, khi yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, bạn cần có một trong những yêu cầu sau:

-Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

- Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp của bạn, sau khi ly hôn bạn có thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng mẹ đứa bé không dùng tiền đó để nuôi con mà lại gửi tiết kiệm, hơn nữa, mẹ đứa bé không có công việc ổn định. Nếu chỉ dựa vào đó để yêu cầu tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con thì chưa đủ vì đây mới chỉ là yếu tố vật chất. Ngoài yếu tố vật chất, người trực tiếp nuôi con còn phải đảm bảo đáp ứng nhiều yếu tố khác nữa như nhu cầu giáo dục, vui chơi giải trí của con, sự chăm sóc, nuôi dưỡng con,...Vì vậy, khi bạn chứng minh được người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bạn có thể yêu cầu tào án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn để giành quyền nuôi con.

Trong trường hợp bạn có yêu cầu Tòa án giải quyết thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3, Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (Luật số 65/2011/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11). Cụ thể:

“Điều 27. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án…

3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.”

Để yêu cầu tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, bạn cần nộp đơn nêu rõ nhu cầu muốn giành quyền nuôi con với các lý do chứng minh người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con.

Mẫu đơn khởi kiện, bạn làm theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự quy định trong phần thứ hai “thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

Hồ sơ kèm theo đơn khởi kiện gồm:

- Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ;

- Các giấy tờ chứng minh về nhân thân người khởi kiện, người bị kiện (chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, Giấy tờ xác nhận nơi cư trú…)

- Bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật về việc ly hôn;

- Giấy khai sinh của con;

- Bản kê các tài liệu nộp kèm đơn khởi kiện (có ghi rõ số lượng bản gốc, bản sao).

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Hy vọng đã giúp bạn giải quyết được vấn đề. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ tư vấn của Công ty Luật Minh Khuê!

Trân trọng!

3. Tư vấn giải quyết ly hôn khi không đăng ký kết hôn ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi năm nay 25 tuổi lấy vợ năm 22 tuổi , vợ tôi lúc đó 16 tuổi nhưng do có bầu trước nên hai gia đình đã tổ chức đám cưới cho chúng tôi .Giờ con tôi đc gần 3 tuổi và vợ chồng tôi có xảy ra mâu thuẫn và gia đình vợ tôi có đòi ly hôn nhưng chúng tôi chưa đăng kí kết hôn và vợ tôi muốn dành quyền nuôi con . Xin luật sư cho tôi biết ở trường hợp này tôi phải giải quyết làm sao ?
xin cảm ơn

Tư vấn giải quyết ly hôn khi không đăng ký kết hôn ?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 14 Luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 của Quốc hội thì:

"Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con."

Như vậy, trong trường hợp này, nếu bạn và vợ bạn chung sống với nhau nhưng không kết hôn thì không được nhà nước thừa nhận về quan hệ hôn nhân này. Nếu có tranh chấp về tài sản chung hay quyền nuôi con thì lúc này, quyền và nghĩa vụ các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Vì vậy, mặc dù về mặt pháp luật không thừa nhận quan hệ hôn nhân của vợ chồng bạn, nhưng khi có yêu cầu giải quyết quyền nuôi con thì Tòa án sẽ giải quyết dựa trên những nguyên tắc trên.

Thưa luật sư, vợ chồng e năm nay 35 tuổi. kết hôn 2002 nay đã có con trai 10 tuổi. cuộc sống khó khăn nhưng hạnh phúc. gần đây chồng e ngoại tình thuê nhà cho người tình ở và thường xuyên qua lại đó. và anh công khai thừa nhận và k chấm dứt cô kia. bảo e ở đc thì ở ko ở đc thì ly hôn. họ hàng anh e can thiệp a cũng ko nghe và chấp nhận từ bỏ theo cô ấy. e k có lỗi gì e chấp nhận vì gd ở nhà chăm sóc con cái. tất cả mọi người đều yêu thương e. luật sư cho e hỏi nếu e kiên quyết ko ly hôn có được ko. a chồng hứa giao lại nhà cửa cho con phần của a ấy. Nhưng vẫn tự do qua lại nhà mà mẹ con e ở như vậy có đúng ko. nếu a ấy giao lại cho con e thì e có được tự ý cho thuê nhà đi nơi khác ko. anh ấy có quyền can thiệp vào ngôi nhà ko. vì a ấy đã đc toàn quyền sử dụng ô tô là tài sản chung do vc em mới mua ko. anh ấy có đc phép tự do về nhà ko. vì tổn thương do bị phản bội nặng nề e ko muốn thấy mặt a ta 1 thời gian. khi nào e thấy tha thứ dc thì a ấy đc về thăm con. xin luật sư tư vấn giúp e ? em chân thành cảm ơn

Theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Dựa theo quy định trên, trong quan hệ hôn nhân, vợ hay chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Vì vậy, trong trường hợp này, bạn không đồng ý ly hôn tuy nhiên chồng bạn vẫn có quyền làm hồ sơ ly hôn đơn phương gửi lên Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết. Tuy nhiên, chồng bạn có quyền nộp đơn ly hôn không có nghĩa Tòa án tiếp nhận sẽ giải quyết cho ly hôn, mà Tòa án sẽ dựa trên căn cứ pháp luật, đó là phải có căn cứ chứng minh tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được.

Điều 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 đã quy định cụ thể về vấn đề này như sau:

a) Căn cứ “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thế kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”

– Được coi là “tình trạng trầm trọng” khi:

+ “Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần”.

+ “Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần”.

+ “Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình”.

– Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn ở trên. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

– “Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt”.

Như vậy, nếu có một trong những căn cứ cho rằng cuộc sống hôn nhân của vợ chồng bạn không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và đời sống hôn nhân không thể kéo dài thì Tòa án sẽ giải quyết cho ly hôn, mà không cần dựa trên ý chí của cả hai bên có muốn hay không.

Về vấn đề phân chia tài sản: Trước hết, việc phân chia tài sản chung sẽ được ưu tiên cho các bên thỏa thuận, nếu không thể thỏa thuận, Tòa án sẽ giải quyết dựa trên nguyên tắc được quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình. Vì vậy, về căn nhà, chiếc ô tô hay những tài sản khác, bạn và chồng có thể thỏa thuận chia cho hợp lý, đảm bảo quyền và lợi ích của các bên, và của con chung.

Xin chào luật sư! Bố mẹ tôi có 4 người con đều đã lập gia đình. Hiện tại tôi và anh chị đang sống cùng bố mẹ. Gia đình tôi xây nhà trên đất mượn của ngành đường sắt (đất không có sổ đỏ riêng từng hộ gia đình mà chỉ có 1 sổ đỏ của cả khu tập thể). Gia đình tôi chỉ có giấy mượn đất của xí nghiệp nơi bố tôi làm việc. Mảnh đất chia làm ba. Một mảnh là nhà bố mẹ tôi. Bố mẹ tôi đã nhượng lại một mảnh cho hộ khác để lấy tiền xây căn nhà bố mẹ đang ở. Một mảnh thì cho anh chị tôi nhưng không viết giấy tờ gì. Trước đây do bố tôi ngoại tình nên có con ngoài giá thú. Hiện tại bố mẹ tôi muốn ly hôn. Xin hỏi luật sư khi ly hôn thì mảnh đất bố mẹ tôi đang ở và mảnh đất đã cho anh chị tôi sẽ được xử lý như thế nào. Và nếu trong trường hợp ly hôn mẹ tôi có quyền kiện bố tôi vi phạm luật hôn nhân gia đình khi đã có vợ con mà ngoại tình hay không? Và toà sẽ xử lý việc ngoại tình như thế nào? Xin cảm ơn luật sư! Đã gửi từ iPhone của tôi

ăn cứ khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cấm các hành vi sau đây:

- Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng vớingười khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;..."

Như vậy hành vi đã có vợ có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác là hành vi bị pháp luật cấm.

Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Theo đó, việc cha bạn ngoại tình với người khác thì mẹ bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật đó. Nếu có hành vi vi phạm nêu trên :

- Xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng);

Hơn nữa, hành vi ngoại tình của chồng là một trong những căn cứ để được giải quyết ly hôn trong trường hợp này.

Về Quyền sử dụng đất: Nếu những mảnh đất trên được xác định là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì đây là tài sản chung của vợ chồng. Vì vậy, quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà về mặt nguyên tắc sẽ được chia đôi cho 02 bên, tuy nhiên, vẫn căn cứ đến một số yếu tố như: công sức đóng góp, việc phân chia phải bảo đảm cho quyền và lợi ích của con chưa đủ 18 tuổi, lỗi của các bên trong việc dẫn đến ly hôn.... Và để quyền sử dụng mảnh đất thứ 02 được chuyển sang cho chị bạn, thì cần phải lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất từ cha mẹ sang cho bạn, để tiến hành việc chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất.

Trân trọng ./.

4. Tư vấn giải quyết ly hôn khi chồng gây khó khăn ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi muốn ly hôn với chồng tôi. Tôi và con gái vẫn ở với ông bà ngoại . Nhưng cách đây 4 năm chồng tôi vào sài gòn làm việc và ở luôn trong đó chỉ ra lại ngoài này vào dịp tết cuối năm khoảng 1-2 tuần lại vào.

Trong thời gian đó tôi cũng biết được một số mối quan hệ mập mờ của chồng tôi, dẫn đến tình cảm rạn nứt và không có tiếng nói chung trong cuộc sống, cảm giác mệt mỏi và bế tắc. Nên tôi muốn ly hôn vì tính cho tới giờ chả khác nào vợ chồng tôi đang ly thân cả. Nhưng khi đề nghị ly hôn với chồng tôi thì anh ta không chịu thỏa thuận và không đồng ý, và cương quyết không về lại ngoài bắc để giải quyết ly hôn, vậy đơn tôi làm đưa lên tòa án nhân dân tỉnh có được chấp nhận và giải quyết không? Có người nói nếu anh ta không đồng ý thì tôi phải vào tận nơi anh ta sinh sống nộp đơn mới được, mà điều kiện công việc và xa con nhỏ tôi không thể vào. Tôi muốn xin 1 lời khuyên, nếu cần có thể đến tận văn phòng để xin tư vấn.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: T.L

Tư vấn giải quyết ly hôn khi chồng gây khó khăn ?

Luật sư tư vấn hôn nhân về thủ tục ly hôn, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo như nội dung thư mà bạn yêu cầu, hiện tại bạn đang có nhu cầu ly hôn nhưng chồng bạn lại không chấp thuận. Trong trường hợp này, bạn vẫn có thể tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

Về tòa án có thẩm quyền, theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, Luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định như sau:

- Về cấp tòa án: Tòa án nhân dân cập huyện theo quy định tại điều 33:

"Điều 33. Thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

1. Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Bộ luật này.

2. Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:

a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6 và 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 28 của Bộ luật này.

3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện.”

- Về thẩm quyền tòa án theo lãnh thổ:

"Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;"

Theo quy định của Luật cư trú 2006 thì nơi cư trú của công dân là:

"Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.

Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú."

Do đó, với trường hợp của bạn, bạn phải gửi đơn đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn đang cư trú hoặc phải thỏa thuận với chồng bạn để thay đổi tòa án sẽ tiến hành thụ lý đơn của bạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004:

"Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;"

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

5. Tư vấn giải quyết ly hôn khi không biết địa chỉ của vợ ?

Kính chào luật sư! Tôi có một số thắc mắc muốn nhờ luật sư tư vấn giúp tôi như sau: Tôi kết hôn với chị H năm 2012. Đầu năm 2014 chị H bỏ nhà đi đâu không rõ địa chỉ. Tháng 5 /2015 tôi muốn làm thủ tục xin ly hôn với H nhưng chỉ nghe được một chút thông tin là H hiện đang ở Trung Quốc nhưng tôi không biết được địa chỉ của H.

Hiện tôi có con 17 tháng tuổi sống cùng tôi từ nhỏ. Như vậy tôi muốn làm thủ tục ly hôn với H thì anh phải làm như thế nào? Tòa án có giải quyết cho tôi trong trường hợp tôi không biết địa chỉ của vợ hiện tại không? Tôi muốn giành quyền nuôi con thì có được không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.M

Tư vấn giải quyết ly hôn khi không biết địa chỉ của vợ ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào anh, cảm ơn anh đã gửi thắc mắc của anh đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin anh cung cấp xin được tư vấn cho anh như sau:

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì ly hôn là quyền của vợ, chồng. Mặt khác, điểm a khoản 1 Điều 36Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định:

“Điều 36. Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết"

Như vậy, anh N hoàn toàn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn đơn phương khi không biết địa chỉ của chị H.

Tuy nhiên trường hợp này do anh nghe nói là chị H có thể đang ở Trung Quốc, nên anh có thể làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chị H cư trú cuối cùng tiến hành xác minh thông tin, thu thập địa chỉ, tin tức của chị H. Khi đó, sẽ có 03 trường hợp xảy ra như sau:

-Trường hợp Tòa án đã dùng biện pháp thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú mà vẫn không có thông tin gì. Thì sau 02 năm kể từ ngày có tin tức cuối cùng của chị H, anh nộp đơn yêu cầu tuyên bố một người là mất tích kèm theo hồ sơ xin ly hôn đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chị H cư trú cuối cùng để làm thủ tục tuyên bố chị H mất tích và giải quyết ly hôn.

-Trường hợp xác minh được địa chỉ của chị H ở trong nước. Nếu chị H ở trong nước thì anh cần xác minh xem chị H có đăng ký tạm trú tại địa phương chị ấy đang sống hay không? Nếu chị ấy có đăng ký tạm trú tại nơi chị ấy đang sống thì anh nộp hồ sơ ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chị H đăng ký tạm trú. Nếu chị H không tạm trú ở nơi chị ấy đang sống thì anh nộp hồ sơ ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chị H có hộ khẩu thường trú để giải quyết ly hôn.

-Trường hợp xác minh được chị H đang ở Trung Quốc, anh nộp hồ sơ ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi chị H cư trú cuối cùng để giải quyết ly hôn.

Về thủ tục ly hôn

Trước hết, anh N cần chuẩn bị 01 bộ hồ sơ bao gồm:

- Đơn xin ly hôn đơn phương.

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính.

- Bản sao có chứng thực các loại giấy tờ: Chứng minh nhân dân của vợ, chồng; sổ hộ khẩu gia đình; giấy khai sinh của con.

Sau đó, anh sẽ nộp hồ sơ tại Tòa án như xác định ở trên, Tòa án sẽ nhận đơn và giải quyết cho anh.

Về việc giành quyền nuôi con:

Do con của anh chị mới 17 tháng tuổi nên theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, con dưới 36 tháng tuổi sẽ giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng.

+ Trường hợp chị H không tham gia phiên tòa, Tòa án sẽ giao con trực tiếp cho anh N nuôi dưỡng.

+ Trường hợp chị H trở về tham gia phiên tòa và giành quyền nuôi con thì Tòa án sẽ căn cứ vào khả năng của mỗi bên để quyết định giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng.

Căn cứ vào thông tin đã được cung cấp, có thể dễ dàng xác định thời điểm mà chị H bỏ nhà ra đi là vào đầu năm 2014 sát với thời điểm mà chị H sinh con, vì vậy, anh N hoàn toàn có thể đưa ra căn cứ này để chứng minh việc chị H đã không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc con. Đây sẽ là căn cứ để Tòa án xem xét đến việc giao con cho anh N nuôi dưỡng.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của anh. Rất cảm ơn vì anh đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng ./.

6. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn ?

1. Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình.

Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia đình; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.

>> Tải: Luật hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê