1. Mức cấp dưỡng cho con khi ly hôn theo quy định mới nhất ?

Xin chào Luật minh Khuê !Tôi và chồng tôi có kết hôn từ T7/2014 nhưng hiện tại có nhiều lý do dẫn đến không thể chung sống. Chúng tôi đang tiến hành thỏa thuận về việc ly hôn. Nhưng chưa thỏa thuận được mức cấp dưỡng. Mong Luật sư tư vấn giúp tôi về mức cấp dưỡng sau khi ly hôn nếu tôi là người nuôi con thì chồng sẽ cấp dưỡng như thế nào ?
Xin cảm ơn !

Tư vấn ly hôn: Ai được quyền nuôi con - Cafe sáng VTV3

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con khi ly hôn được quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đinh 2014 như sau:

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Như vậy, nếu không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Căn cứ theo Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không quy định mức cấp dưỡng tối thiểu hiện nay hay mức cấp dưỡng tối đa là bao nhiêu mà pháp luật cụ thể là chỉ quy định chung như sau:

"Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Như vậy pháp luật không quy định cụ thể mức cấp dưỡng là bao nhiêu mà phải căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng và đương nhiên những chi phí này là chi phí hợp lý. Người mẹ đưa ra những chứng từ, hóa đơn khống để tăng tiền cấp dưỡng nuôi con nếu xét thấy những chi phí đó không hợp lý thì Tòa sẽ không giải quyết. Ngược lại, trong trường hợp này người chồng đưa ra những căn cứ chứng minh những chi phí đó không có thật hoặc không hợp lý thì tòa án sẽ xem xét cụ thể.

Như vậy, mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn hiện hành trước hết là do thỏa thuận giữa hai vợ chồng bạn. Bạn có thể yêu cầu chồng bạn mức cấp dưỡng cho con hợp lý căn cứ vào thu nhập thực tế của chồng bạn trừ đi nhu cầu thiết yếu phục vụ cho sinh hoạt tối thiểu nhất của chồng bạn hiện nay, cũng như căn cứ vào nhu cầu thiết yếu của con bạn vì tùy vào từng độ tuổi khác nhau, con của bạn sẽ cần một mức cấp dưỡng phù hợp nhất.

Ngược lại, trong trường hợp hai vợ chồng bạn không thỏa thuận với nhau được mức cấp dưỡng cho con thì bạn hoặc chồng bạn phải chứng minh được các khoản thu nhập của chồng bạn tạo lập được trong một tháng, để từ đó chứng minh được thu nhập của chồng bạn để Tòa án làm căn cứ để đưa ra một mức cấp dưỡng phù hợp nhất cho hai con của bạn.

Về phương thức cấp dưỡng do các bên thoả thuận định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì Toà án quyết định phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.

>> Xem ngay: Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn được quy định như thế nào ?

2. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con sau khi ly hôn có được thay thế bằng nghĩa vụ khác hay không ?

Chào luật sư. Cho em hỏi vấn đề như sau: Vấn đề cấp dưỡng được pháp luật quy định như thế nào ? nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con sau khi ly hôn được thực hiện ra sao ? nghĩa vụ cấp dưỡng có thể thay thế bằng nghĩa vụ khác hay không ? nghĩa vụ này sẽ chấm dứt khi nào ?
Em cám ơn.

Luật sư tư vấn luật Hôn nhân về nghĩa vụ cấp dưỡng, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Quan hệ cấp dưỡng là quan hệ đặc trưng của pháp luật hôn nhân và gia đình. Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên,là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu. Nghĩa vụ cấp dưỡng là sự biểu đạt vật chất của tình đoàn kết giữa các thành viên trong cùng một gia đình, là nghĩa vụ mà luật áp đặt đối với một thành viên gia đình, theo đó thành viên này phải giúp đỡ thành viên khác, về phương diện vật chất, trong điều kiện thành viên khác sống trong tình trạng túng quẩn và không thể tự mình giải quyết vấn đề ổn định điều kiện sống vật chất của mình.

1. Vấn đề cấp dưỡng được pháp luật quy định như thế nào ?

Khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về cấp dưỡng như sau:

"Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này."

Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn:

"1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

Như vậy sau khi ly hôn, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Nghĩa vụ cấp dưỡng có thể thay thế bằng nghĩa vụ khác được hay không ? Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt khi nào ?

Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng:

"1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này."

Do đó theo khoản 1 Điều 107 trên thì nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế và không được chuyển giao cho người khác.

Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng:

"Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;

2. Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;

3. Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;

4. Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;

5. Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn;

6. Trường hợp khác theo quy định của luật."

Như vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ chấm dứt khi thuộc vào các trường hợp quy định tại Điều 118 trên.

>> Xem ngay: Chồng cũ không cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn thì phải làm thế nào?

3. Ly hôn bố không có trách nhiệm cấp dưỡng mẹ muốn đổi họ cho con được không ?

Sau khi ly hôn, bố muốn rũ bỏ trách nhiệm không chăm sóc con cũng như không thực hiện quyền cấp dưỡng làm cho mẹ bức xúc và muốn đổi họ cho con sang họ mẹ, vì không muốn còn liên quan gì đến người chồng cũ. Vậy phải làm thế nào?

Ly hôn bố không có trách nhiệm cấp dưỡng mẹ muốn đổi họ cho con được không ?

Trả lời:

Căn cứ theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 việc thay đổi họ được thực hiện khi:

Điều 27. Quyền thay đổi họ

1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sau đây:

a) Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại;

b) Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi;

c) Khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ;

d) Thay đổi họ cho con theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc của con khi xác định cha, mẹ cho con;

đ) Thay đổi họ của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;

e) Thay đổi họ theo họ của vợ, họ của chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họ trước khi thay đổi;

g) Thay đổi họ của con khi cha, mẹ thay đổi họ;

h) Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.

2. Việc thay đổi họ cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.

3. Việc thay đổi họ của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ cũ.

Như vậy Bố, mẹ có thể thay đổi họ cho con từ họ cha sang họ mẹ và ngược lại. Việc thay đổi họ cho con được thực hiện theo thủ tục thay đổi,cải chính hộ tịch. Cụ thể Luật hộ tịch năm 2014 có quy định như sau:

Điều 4. giải thích từ ngữ

10. Thay đổi hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thay đổi những thông tin hộ tịch của cá nhân khi có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật dân sự hoặc thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký theo quy định của pháp luật.

Phạm vi thay đổi đổi hộ tịch cho con phải đáp ứng theo quy định Luật hộ tịch năm 2014 cụ thể như sau

Điều 26. Phạm vi thay đổi hộ tịch

1. Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự

Điều kiện để thay đổi hộ tịch cho con được quy định tại Nghị định 123/2015/NĐ-CP như sau:

Điều 7. Điều kiện thay đổi, cải chính hộ tịch

1. Việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 của Luật Hộ tịch phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện rõ trong Tờ khai; đối với người từ đủ 9 tuổi trở lên thi còn phải có sự đồng ý của người đó.

Như vậy việc thay đổi hộ tich cho con dưới 18 tuổi phải được sự đồng ý của cả cha, mẹ của người đó và thể hiện rõ ràng trong tờ khai, đối với người đủ 9 tuổi trở lên thì còn phải có sự đồng ý của người đó.

Như vậy nếu mẹ muốn thay đổi họ cho con phải được sự đồng ý bằng văn bản của người cha, trường hợp người cha không đồng ý sẽ không thực hiện được.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc gì về ý kiến tư vấn xin hãy liên hệ với tổng đài 1900.1940

Nếu bạn muốn đặt lịch tư vấn trực tiếp tại văn phòng vui lòng tham khảo bài viết: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp tại văn phòng

Bạn cũng có thể tham khảo thêm: Một số video tư vấn pháp luật lĩnh vực hôn nhân gia đình do Luật Minh Khuê xây dựng hoặc tham gia trả lời trên truyền hình Rất mong được phục vụ Quý khách hàng trên phạm vi cả nước!

4. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng con sau khi ly hôn ?

Thưa luật sư, Luật sư cho hỏi trường hợp ly hôn quyền nuôi con thuộc về người vợ người chồng co nghĩa vụ trợ cấp nuôi con vậy nếu người chồng mất thì bố mẹ chồng có phải trợ cấp nuôi cháu thay chồng không?
Người gửi: Hoan

Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng con sau khi ly hôn ?

Trả lời:

Khoản 4 điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 118. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng

4. Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết."

Như vậy, sau khi ly hôn, nếu chồng bạn mất thì nghĩa vụ cấp dưỡng của chồng bạn sẽ chấm dứt.

Ông bà có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp:"cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng theo quy định tại điều 112 của Luật này", khoản 1 điều 113 Luật Hôn nhân và gia đình quy định cụ thể vấn đề này.

Điều 112 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 112. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em

Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình."

Trong trường hợp này, nếu bạn không còn khả năng lao động và con bạn không có anh, chị cấp dưỡng cho thì ông bà nội, ông bà ngoại sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem ngay: Mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn hiện nay là bao nhiêu?

5. Chia tài sản và phương thức cấp dưỡng cho con khi ly hôn.

Gia đình có 2 người con gái. Người bố làm ăn bên nước ngoài 8 năm tính đến nay, và suốt 8 năm đó ngoại tình và không chu cấp tiền cho người mẹ nuôi con. Suốt những năm đó người mẹ phải gánh vác 1 mình kiếm tiền nuôi 3 đứa con, 2 đứa lớn đến nay đã ngoài 20 và 1 đứa nhỏ lên 4. Bây giờ người bố muốn ly hôn và chia tài sản.

Nhưng người mẹ không đồng ý và muốn người bố tự đơn phương ly hôn. Trong trường hợp này, xin hỏi luật sư, nếu người bố tự đơn phương ly hôn, và người mẹ ra tòa và nói rằng 1 mình nuôi các con bao năm nay nên muốn đc toàn bộ tài sản và đất đai còn lại và không muốn chia cho người bố đã bội bạc như vậy và các con làm chứng là bao năm mẹ nuôi 1 mình, vậy người mẹ có được thừa hưởng tài sản như vậy ko.

Người mẹ muốn dành quyền nuôi con, và tiền trợ cấp của người bố đến khi 18 tuổi người mẹ muốn lấy luôn 1 lúc vì nghi ngờ người bố sẽ viện lí do để không đóng tiền nuôi con, như vậy có được không ạ ?

Cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Thứ nhất, về việc người chồng muốn đươn phương ly hôn và người vợ không đồng ý.

Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Như vậy, để tiến hành đơn phương ly hôn người chồng cần có căn cứ về việc người vợ có hành vi bạo lực gia đình ( bạo lực về thể chất hoặc tinh thần ) hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nếu không có một trong những căn cứ trên thì Tòa án sẽ không giải quyết cho ly hôn.

Thứ hai, về vấn đề chia tài sản khi ly hôn

Khi người chồng có những căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 để Tòa án giải quyết ly hôn thì vấn đề tài sản sẽ được giải quyết. Do trong thư bạn không nêu rõ rằng hai vợ chồng có những tài sản gì nên chúng tôi không thể tư vấn cụ thể được. Vì vậy, để xác định những tài sản này là chung hay riêng bạn tham khảo các Điều luật sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Khi đã xác định được những tài sản này là riêng hay chung của hai vợ chồng thì nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn như sau:

Về tài sản riêng: Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung.

Về tài sản chung: Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Thứ ba, về phương thức cấp dưỡng cho con khi ly hôn.

Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về phươn thức cấp dưỡng như sau:

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong trường hợp người vợ muốn người chồng cấp dưỡng một lần cho con 4 tuổi thì hai bên có thể thỏa thuận. Trường hợp người chồng không đồng ý với ý kiến này thì người vợ phải chứng minh được rằng chồng có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng một lần, nếu không cấp dưỡng một lần sẽ trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.1940 để được giải đáp.

6. Khi ly hôn bố có phải cấp dưỡng cho con đã đủ 18 tuổi không?

Thưa Luật sư! Hai vợ chồng tôi vừa ly hôn xong. Theo quyết định tại bản án sơ thẩm, con tôi (10 tuổi) sẽ giao cho vợ nuôi. Và tôi sẽ cấp dưỡng cho con đến năm con 18 tuổi. Nhưng vợ tôi không đồng ý với lý do con tôi nhận thức chậm hơn so với các cháu cùng độ tuổi. Vợ tôi buộc tôi phải cấp dưỡng cho cháu kể cả khi cháu đã đủ 18 nếu không cô ấy sẽ làm đơn kháng cáo và nhờ luật sư bào chữa. Vậy tôi muốn hỏi liệu tôi có phải thực hiện việc cấp dưỡng cho con khi con trên 18 tuổi không?
Tôi xin cảm ơn!

Khi ly hôn bố có phải cấp dưỡng cho con đã đủ 18 tuổi không?

Trả lời:

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi hai vợ chồng ly hôn, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Ngoài ra, Điều 110 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con như sau:

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Theo quy định trên, sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi dưỡng con sẽ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nếu:

- Con chưa thành niên;

- Con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự;

- Con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động (như mắc những bệnh hoặc tật dẫn đến việc không có khả năng lao động và có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền) và không có tài sản để tự nuôi mình.

Theo Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015, người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. Về thế nào là mất năng lực hành vi dân sự, Điều 22 quy định:

1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Đối chiếu với các quy định trên, việc cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chỉ thực hiện khi con dưới 18 tuổi. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con trên 18 tuổi chỉ khi nào con rơi vào một trong các trườn hợp nêu trên. Như trường hợp của bạn, việc cháu bé chậm hiểu, chậm tiếp thu kiến thức hơn những bạn bè cùng trang lứa không đồng nghĩa với việc cháu bị mất năng lực hành vi dân sự hay không có khả năng lao động. Nên việc mẹ cháu buộc bạn phải cấp dưỡng khi cháu đã thành niên là không có căn cứ.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình về quyền nuôi con và chế độ cấp dưỡng gọi số: 1900.1940 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê