1. Mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn hiện nay là bao nhiêu?

Tôi có vấn đề muốn nhờ luật sư tư vấn như sau: Chồng tôi là bộ đội, tôi là giáo viên, chúng tôi có hai người con chung. Do ngoại tình, chồng tôi có người mới và có một đứa con riêng. Tôi đã tha thứ nhiều lần nhưng chồng tôi vẫn chứng nào tật đó. Cuối cùng, do mâu thuẫn, hết tình cảm, hai chúng tôi quyết định ly hôn. Chồng tôi đồng ý để cho tôi nuôi cả hai con và anh sẽ cấp dưỡng.
Vậy xin cho hỏi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn hiện nay là bao nhiêu?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Như thông tin bạn cung cấp, hai vợ chồng bạn đã quyết định ly hôn và con là do bạn nuôi, chồng bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho hai con. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành, chưa có quy định chính thức nào ghi cụ thể mức cấp dưỡng sau khi ly hôn của cha, mẹ cho con là bao nhiêu tiền một tháng, cũng như không quy định mức cấp dưỡng tối thiểu hiện nay hay mức cấp dưỡng tối đa là bao nhiêu mà pháp luật cụ thể là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ quy định chung như sau:

"Điều 116. Mức cấp dưỡng
1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
"

Như vậy, mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn hiện hành trước hết là do thỏa thuận giữa hai vợ chồng bạn. Bạn có thể yêu cầu chồng bạn mức cấp dưỡng cho hai con hợp lý căn cứ vào thu nhập thực tế của chồng bạn trừ đi nhu cầu thiết yếu phục vụ cho sinh hoạt tối thiểu nhất của chồng bạn hiện nay, cũng như căn cứ vào nhu cầu thiết yếu của hai con của bạn vì tùy vào từng độ tuổi khác nhau, các con của bạn sẽ cần một mức cấp dưỡng phù hợp nhất.

Ngược lại, trong trường hợp hai vợ chồng bạn không thỏa thuận với nhau được mức cấp dưỡng cho con thì bạn hoặc chồng bạn phải chứng minh được các khoản thu nhập của chồng bạn tạo lập được trong một tháng, để từ đó chứng minh được thu nhập của chồng bạn để Tòa án làm căn cứ để đưa ra một mức cấp dưỡng phù hợp nhất cho hai con của bạn.

Về việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Hai vợ chồng bạn có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp chồng bạn là người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; trong trường hợp, nếu hai vợ chồng bạn không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

>> Xem ngay: Tư vấn ly hôn, giành quyền nuôi con và mức cấp dưỡng ?

2. Đơn kiện yêu cầu cấp dưỡng cho con sau ly hôn?

Em xin chào, hiện em có một người bạn đã ly hôn chồng và bạn em cũng đang nuôi hai đứa con. Khi tòa tuyên thì người chồng đồng ý gửi tiền nuôi hai đứa con. Mỗi đứa là 1 triệu đồng,nhưng tòa giải quyết đã hơn một năm mà người chồng cũng không gửi tiền nuôi con, bây giờ bạn em muốn kiện người chồng thì phải làm thế nào ?
Em xin chân thành cảm ơn.
- Quốc Nguyễn

Video - Hướng dẫn thủ tục ly hôn đơn phương

3. Ly Hôn, Chia Tài Sản và Cấp Dưỡng Cho Con ?

Kính gởi: luật sư hỏi: thưa luật sư. Cho tôi hỏi những câu hỏi sau: hai vợ chồng em gái tôi có 03 đứa con (con trai đầu 14 tuổi, con gái thứ hai 11 tuổi và con gái thứ 03 hiện được hơn 35 tháng tuổi) thì chồng em gái tôi ngoại tình bên ngoài.

Em gái tôi phát hiện và bắt gặp được quả tang và chồng em gái tôi không ăn năn hối cải mà còn làm đơn ly hôn (khởi kiện đơn ly hôn đơn phương), chồng em gái tôi tự thuê thẩm định tài sản nhà cửa, đất đai và nợ chung. Còn mấy ngày nữa là ra tòa xét xử vụ án sơ thẩm dân sự “ ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản chung và nợ chung”. *- về đất*: trước năm 2002 mẹ chồng em gái tôi có mảnh đất (chưa có giấy chứng nhận sử dụng đất), trên đất có ngôi nhà cũ (năm 2007 đập phá đi để xây nhà mới hoàn toàn) và khi mẹ chồng em gái tôi chết và có xây thêm 2 ngôi nhà nữa (một nhà ở và một nhà kho, nhà kho bên cạnh đất). Em gái tôi kết hôn năm 2002 sống cùng với gia đình nhà chồng gồm có (mẹ chồng, chồng (là con một duy nhất), cha chồng em gái tôi không biết mất tích, 02 cháu là con của vợ/chồng em gái tôi). Năm 2008 mẹ chồng em gái tôi bệnh tật qua đời. Khi mẹ chồng em gái tôi chết không có để lại di chúc và giấy tờ cho tặng đất vợ/chồng em gái tôi. Từ đó vợ/chồng em gái tôi làm ăn sinh sống và tôn tạo, xây dựng thêm nhà cửa mới trên mảnh đất mẹ chồng em gái tôi (không có đăng ký sở hữu quyền sử dụng đất). *hỏi:*

1. Em gái tôi có được ở lại ngôi nhà trên mảnh đất của mẹ chồng em gái tôi như trình bày ở trên cùng với 03 cháu (trong đó 02 cháu; cháu lớn 14 tuổi, cháu thứ hai 11 tuổi đã được tòa án gọi ra hỏi và 02 cháu đều ở với mẹ*)*.

2. Nếu như tòa án xử em gái tôi phải ra ngoài thì em gái tôi phải làm gì.

3. vậy em gái của tôi có lấy lại được số tiền trong mấy tháng chờ tòa phân xử ly hôn không. Vì mấy gần một năm chờ tòa án xử ly hôn thì chồng em gái tôi không phụ cấp nuôi con gì hết ?

4. Làm sao để lấy được tiền phụ cấp cho con cái của em gái tôi khi mà ly hôn nuôi 03 đứa con ?

5. Tòa án đã quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự xét thấy “ vụ án cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác có liên quan đên vụ án”, (vụ án cơ quan khác là đang chờ kết quả điều tra có liên quan tới chồng em gái tôi ngoại tình). Trong khi đang chờ vụ án của cơ quan khác chưa xử lý xong thì tòa án đã ra quyết định xử vụ án sơ thẩm như vậy có đúng không. Giờ em giá tôi muốn tòa án hoãn xét xử chờ cơ quan khác có liên quan điều tra xong thì em gái tôi phải làm gì. Kính mong luật tư tư vấn giúp cho tôi để tôi hướng dẫn em gái tôi thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp lý theo qui định; đảm bảo quyền lợi cho em gái tôi và các cháu ?

Trân trọng cảm ơn luật sư.

- Thanh Cong

Video - Tư vấn giải quyết tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn

4. Quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau ly hôn giải quyết như thế nào ?

Luật Minh Khuê tư vấn về quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật hiện hành
Thưa luật sư, Hiện nay con trai tôi đang tiến hành làm thủ tục ly hôn với vợ. Con trai tôi cưới vợ năm 2003 đến 2006 thì vợ có thai một cháu trai được 4 tháng thì bị sảy thai. Đến 2010 vợ cháu lại có thai trong thời gian con tôi công tác nước ngoài, cháu sinh tháng 8-2010. Nay đã 6 tuổi, tuy con tôi nghi ngờ vợ ngoại tình nhưng vẫn thương yêu chăm sóc cháu chu đáo, gần đây tình cảm vợ chồng không hoà thuận, con tôi đi xét nghiệm ADN và kết quả là đứa con hiện tại không phải con của con tôi. Con tôi nộp đơn lên toà xin ly hôn, toà giải thích dù không phải con tôi nhưng đứa con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân thì tôi vẫn phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng con. Vậy trường hợp của tôi xin luật sư tư vấn nên như thế nào ? Sau ly hôn tôi có quyền từ chối cấp dưỡng nuôi con được không ?
Xin cảm ơn !

Trả lời:

Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Theo quy định này, khi hôn nhân còn tồn tại, chỉ cần người vợ sinh con hoặc có thai trong thời kỳ này đều đương nhiên được hiểu là con chung của hai vợ chồng. Trừ trường hợp người cha không nhận con và đưa ra các bằng chứng xác đáng cho việc không nhận con của mình. Do đó nếu có căn cứ xác đáng về việc không nhận con của mình và được Tòa án xác nhận thì người con này sẽ không được coi là con chung của hai vợ chồng. Do đó, bạn sẽ không phải cấp dưỡng nếu đó không được xác định là con bạn

Vậy xin hỏi luật sư nếu như đất của ba chồng cho nhưng nhà là của hai vợ chồng xây dựng thì khi ly hôn sẽ chia như thế nào ạ

Trả lời:

Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Căn cứ theo quy định trên trong trường hợp vợ chồng bạn có ly hôn, tuy nhiên có xây nhà trên mảnh đất đứng tên bố mẹ chồng thì bạn vẫn được chia tài sản đối với ngôi nhà đó nếu bạn chứng minh được công sức đóng góp để tạo lập nên khối tài sản kia thì bạn sẽ được chia theo công sức góp của mình và phía bên chồng bạn sẽ phải có nghĩa vụ thanh toán cho bạn chi phí đó.

Thưa luật sư, Tôi sinh năm 1988 ,hiện nay cuộc sống hôn nhân của tôi có vấn đề không thể tiếp tục sống với nhau được nữa ,tôi xin luật sư hãy tư vấn cho tôi trường hợp này giải quyết như nào?

Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì đối với trường hợp này bạn sẽ có quyền yêu cầu ly hôn nếu thỏa mãn quy định tại Điều 51 Luât hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Tủy từng trường hợp mà bạn sẽ giải quyết ly hôn theo thủ tục thuận tình theo quy định sau:

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Hoặc thủ tục đơn phương nếu cả hai vợ chồng đều đồng ý ly hôn theo quy định tại Điều 56

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Chào luật sư, Tôi và vợ tôi sắp ly hôn. Nay vợ tôi có bầu 4 tháng. Toi phải làm gì sau khi ly hôn.xin cảm ơn

Trả lời:

Luât hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Căn cứ theo quy định trên trường hợp vợ bạn đang mang bầu 4 tháng thì bạn không có quyền yêu cầu ly hôn.

Chào luật sư, tôi kết hôn với người nước ngoài được sở tư pháp cấp giấy chứng nhận kết hôn, người chồng không qua lại liên lạc 2 năm, và người chồng ấy đã qua đời do tai nạn giao thông. Xin Luật sư hướng dẫn thủ tục ly hôn và cấp nào giải quyết. Trân trọng cám ơn

Trả lời:

Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 65. Thời điểm chấm dứt hôn nhân

Hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết.

Trong trường hợp Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng là đã chết thì thời điểm hôn nhân chấm dứt được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án.

Căn cứ theo quy định trên, khi chồng bạn bị tai nạn giao thông qua đời thì đồng nghĩa với việc hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm người đó chết.

Trong trường hợp trên bạn cần tiến hành thủ tục khai tử cho người chồng, và sau đó bạn có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định chấm dứt hôn nhân.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm: Án phí ly hôn áp dụng mới nhất áp dụng hiện nay là bao nhiêu tiền ?

5. Tư vấn thay đổi họ cho con khi chồng không cấp dưỡng ly hôn?

Chào luật Minh Khuê, cho em hỏi. Vợ chồng em đã ly hôn. Hiện tại anh ấy không chu cấp cho con em như tòa đã quyết. Vậy em có thể đổi họ cho con em sang họ của em mà không có sự đồng ý của bố đứa bé không ạ?
E xin chân thành cảm ơn

Tư vấn thay đổi họ cho con khi chồng không cấp dưỡng ly hôn?

Tổng đài tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005:

Điều 27. Quyền thay đổi họ, tên

1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong các trường hợp sau đây:

a) Theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;

b) Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi họ, tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi không làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ, tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt;

c) Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;

d) Thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại;

Nghị định 158/2005/NĐ-CP Của chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định như sau:

Điều 36. Phạm vi thay đổi, cải chỉnh hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch

Phạm vi thay đổi, cải chỉnh hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch theo quy định tại Mục này bao gồm:

1. Thaỵ đổi họ, tên, chữ đêm đã được đăng ký đúng trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính giấy khai sinh, nhưng cá nhận có yêu cầu thay đổi khi có lý do chính đáng theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch thì một trong những phạm vi thay đổi, cải chính hộ tịch là “Thay đổi họ, tên, chữ đệm đã được đăng ký đúng trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính giấy khai sinh, nhưng cá nhân có yêu cầu thay đổi khi có lý do chính đáng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Tuy bạn đã ly hôn và chồng không chu cấp cho con nhưng đó vẫn là cha đứa trẻ và phải được sự đồng ý của cha đứa trẻ thì mới có quyền đổi họ cho con.

Bởi về hồ sơ, theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 06/2012/NĐ-CP) thì hồ sơ bao gồm:

- Tờ khai (theo mẫu)

- Bản chính giấy khai sinh của con

- Các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc thay đổi (chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu…).

- Văn bản thể hiện sự đồng ý của cả cha và mẹ về việc đổi họ cho con.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Có được thay đổi họ con từ họ của chồng cũ sang họ của chồng mới không?

6. Tư vấn về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ sau ly hôn đối với con ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì không có quy định cụ thể cơ chế pháp lý đảm bảo cấp dưỡng sau khi cha mẹ ly hôn đối với con.

Ngoài ra Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định hướng dẫn một số điều của Luật hôn nhân cũng không có quy định cụ thể. Bởi Luật hôn nhân và gia đình 2014 sẽ thay đổi luật hôn nhân và gia đình năm 2000 còn Nghị định số 126 thì thay thế nghị định số 70; 32; 24 quy định về hôn nhân và gia đình.

Vậy tôi muốn hỏi là:

1. Cơ chế pháp lý nào để đảm bảo người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của mình đối với con khi cha mẹ ly hôn ?

2. Nếu như người cấp dưỡng từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng thì quy định nào để xử lý và án phạt sẽ là gì ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.V.T Nghĩa

Trả lời:

- Cơ chế pháp lý đảm bảo người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con khi cha mẹ ly hôn ?

Căn cứ theo các Điều 81 về "Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn", Điều 82 về "Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn", Điều 119 về "Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng", Luật Hôn nhân gia đình 2014 thì:

+ Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

+ Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

+ Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

+ Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Như vậy, trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình đối với con sau khi ly hôn, thì những cá nhân, cơ quan, tổ chức trên đây có quyền gửi đơn yêu cầu lên Tòa án nơi người đó cư trú hoặc làm việc theo quy định tại Khoản 5 Điều 27, Điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự để buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Nếu người đó hoặc tài sản của họ ở Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết sẽ thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện, còn không thì sẽ do Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý giải quyết.

Trong trường hợp người đó không tự nguyện thi hành theo bản án, quyết định của Tòa, thì cá nhân, cơ quan, tổ chức trên đây có quyền làm đơn để yêu cầu cơ quan thi hành án thực hiện việc cưỡng chế thi hành bản án, quyết định của Tòa đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của Luật Thi hành án dân sự 2008

- Nếu như người cấp dưỡng từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng thì quy định nào để xử lý và án phạt sẽ là gì ?

+ Xử lý hành chính: Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự,… không quy định trực tiếp biện pháp xử phạt đối với hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng. Tuy nhiên hành vi này được quy định chung tại điểm a khoản 3 Điều 52 Nghị định 110/2013/NĐ-CP. Theo đó, hành vi “Không thực hiện công việc phải làm ... theo bản án, quyết định” của tòa án có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng trong trường hợp đã có bản án, quyết định của tòa buộc 1 người phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

+ Xử lý hình sự: Theo quy định tại Điều 152 Bộ luật hình sự 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

Căn cứ theo Khoản 8.4, 8.5 Điều 8, Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT/BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC về việc hướng dẫn áp dụng các quy định tại chương XV "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình" của Bộ luật hình sự năm 1999 thì:

"8.4. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về "tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng" khi có đầy đủ các dấu hiệu sau đây:

a) Người vi phạm phải là người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;

b) Người vi phạm từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng;

c) Việc từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng đã gây hậu quả nghiêm trọng (tức là làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe như: ốm đau, bệnh tật, v.v...). Trong trường hợp chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì người vi phạm phải đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

8.5. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm này cần lưu ý, nếu đã có bản án, quyết định của Toà án buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ của mình mà người đó vẫn cố tình không chấp hành, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 BLHS về tội không chấp hành án."

Nếu còn có điều gì thắc mắc, mời bạn vui lòng gửi thư theo địa chỉ này hoặc gọi điện trực tiếp đến tổng đài 1900.6162 để được giải đáp nhanh chóng và chính xác nhất.

Trân trọng./.

Ban tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình - Công ty Luật Minh Khuê