Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình

2. Luật sư tư vấn:

Theo như thông tin bạn cung cấp, người chồng thường xuyên có hành vi suốt ngày uống rượu và chửi bới, đánh đập vợ và có hành vi xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm của người vợ. Do đó, căn cứ theo quy định của Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình và Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Thứ nhất, đối với hành vi đánh đập vợ với mức độ nhẹ, chưa đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự, căn cứ Điều 49 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

"Điều 49. Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.
2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;
b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này."

Như vậy, người chồng có hành vi bạo lực gia đình, có hành vi đánh đập vợ nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì người chồng có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng hoặc có thể là phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng, tùy thuộc vào từng mức độ và tích chất của hành vi, đồng thời, người chồng phải công khai xin lỗi vợ. Trong trường hợp này, người vợ có quyền làm đơn yêu cầu xử phạt vi phạm hành chính hành vi của anh chồng tới Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn để yêu cầu giải quyết.

Nếu trong trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn đã xử phạt vi phạm hành chính mà người chồng vẫn tiếp tục đánh đạp vợ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn chưa xử phạt nhưng mức độ nguy hiểm của hành vi đánh đạp vợ của người chồng rất nặng thì người vợ có quyền nộp đơn tố giác tội phạm về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Thứ hai, đối với hành vi xúc phạm, chửi bới vợ. Căn cứ quy định tại Điều 51 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình:

"1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình.
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
b) Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình;
c) Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;
b) Buộc thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh đối với hành vi quy định tại Điểm a, c Khoản 2 Điều này."

Như vậy, người chồng đang có hành vi lăng mạ, xúc phạm danh dự nhân phẩm của vợ thì người chồng có thể bị xử phạt với mức phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, đồng thời, người chồng phải công khai xin lỗi vợ theo quy định. Lúc này, người vợ có quyền làm đơn yêu cầu xử phạt vi phạm hành chính hành vi của anh chồng tới Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn để yêu cầu giải quyết.

Bên cạnh đó, nếu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn không thể giải quyết được và không thể hòa giải được cho hai vợ chồng, người vợ có quyền làm đơn tố giác tội phạm tới Cơ quan công an cấp Quận, huyện, thành phố trực thuộc tỉnh để yêu cầu giải quyết đối với hành vi làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

"Điều 155. Tội làm nhục người khác
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Đối với người đang thi hành công vụ;
đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
b) Làm nạn nhân tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê