Về tài sản, năm 2001 chúng tôi mua một ngôi nhà đã được cấp sổ đỏ mang tên cả hai vợ chồng. Tháng 7/2007, chúng tôi mua thêm một ngôi nhà khác và cũng đã được cấp sổ đỏ mang tên cả hai vợ chồng.

Tiền mua nhà, xây nhà và mua sắm các tài sản khác đều do chồng tôi làm ra, tôi không tham gia hay có đóng góp gì trong hoạt động kinh doanh của chồng.

Vậy xin hỏi: Chúng tôi chung sống từ tháng 2/2000 nhưng đến tháng 7/2002 mới đăng ký kết hôn. Vậy thời điểm hôn nhân được xác định từ thời điểm nào? Những gì được xác định là tài sản chung của vợ chồng tôi? Và tôi có quyền đề nghị pháp luật xử lý hành vi vi phạm của chồng tôi và người đàn bà kia không? Hành vi của họ bị xử lý như thế nào?

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900.1940

 

Trả lời:

Ngoại tình có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự!

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật HN&GĐ),  điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật HN&GĐ và điểm A khoản 2 Thông tư liên tịch số  01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của TAND tối cao, VKSND tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành thì đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thì họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003. Nếu trong khoảng thời gian này, họ đăng ký kết hôn thì quan hệ hôn nhân của họ được xác định kể từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng. Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì họ không được công nhận là vợ chồng.

Như vậy, với quy định trên thì mặc dù vợ chồng bạn chung sống từ tháng 2/2000 nhưng đến 7/2002 mới đăng ký kết hôn nhưng quan hệ hôn nhân của bạn vẫn được xác định từ tháng 2/2000. Nói cách khác là pháp luật công nhận quan hệ vợ chồng của bạn kể từ tháng 2/2000, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng cũng được tính từ thời điểm này.

Đối với tài sản chung vợ chồng, theo quy định tại Điều 27 thì tài sản chung của vợ chồng gồm:
- Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.

Như vậy, hiểu một cách khái quát là những tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung vợ chồng. Để xác định một tài sản có phải là tài sản chung của vợ chồng chỉ cần xem xét nó có phát sinh trong thời kỳ hôn nhân hay không, pháp luật không quan tâm ai là người tạo lập chính hoặc hoàn toàn đối với tài sản chung đó. Thậm chí pháp luật còn quy định “Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập” (Khoản 2 Điều 95 Luật HN&GĐ). Căn cứ vào quy định trên hai ngôi nhà và các tài sản khác tạo lập được trong thời gian từ tháng 2/2000 đến nay được xác định là tài sản chung vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng bạn còn bao gồm cả các tài sản mà chồng bạn đang sở hữu ở công ty. Nếu ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này (Khoản 2 Điều 95 Luật HN&GĐ).

Về việc chồng bạn có quan hệ bất chính với người khác nhưng không chung sống như vợ chồng (được hiểu theo nghĩa ăn chung, ở chung, có con chung, có tài sản chung) thì mới chỉ là vi phạm đạo đức, bị xã hội lên án. Còn nếu chồng bạn quan hệ bất chính với biểu hiện chung sống như vợ chồng với người khác là đã vi phạm chế độ một vợ một chồng. Trường hợp này bạn có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét trách nhiệm hình sự hoặc trách nhiệm hành chính đối với hành vi vi phạm của chồng bạn cũng như của người đàn bà kia tùy theo mức độ vi phạm và hậu quả đã gây ra. Nếu hậu quả không nghiêm trọng thì người vi phạm bị xử phạt hành chính và buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm. Còn nếu hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng (Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v...) và người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng mà còn vi phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147 Bộ luật Hình sự)

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật - Công ty luật Minh Khuê

---------------------------------------------------------------