Do có dự định làm thủ tục kết hôn trước để bảo lãnh qua em qua mỹ nên tháng 01/2015 em và a h. Có đăng ký kết hôn ở huyện mỹ xuyên (sóc trăng) thuộc quê quán của em. Khi a h. Quay về mỹ và đến tháng 07/2015, em và a. H không liên lạc nhau nữa. Đến nay, cả 2 bên đều đồng ý ly hôn nhưng do a h. Sống ở mỹ không về việt nam để cùng ra toà ly hôn được. Trường hợp này luật sư cho em hỏi nếu cả 2 cùng soạn đơn, bên a h. Ký và gửi về việt nam để em cùng ký vào đơn và nộp vào toà án tỉnh sóc trăng thì có được không ạ. Nếu không được, nhờ luật sư tư vấn giúp em hướng xử lý và cách làm thế nào để tiến hành ly hôn thuận lợi và trong thời gian ngắn nhất có thể không ạ. Em mong nhận được phản hồi tư vấn sớm từ luật sư. Em cảm ơn,thanh xuân.

Người gửi : Huynh Thanhxuan

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Luật hôn nhân và gia đình 2014

Bộ luật dân sự 2015

Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP

2. Nội dung tư vấn

Ly hôn là điều không mong muốn nhưng khi cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mẫu thuẫn căng thẳng kéo dài thì đó là điều đương nhiên. Có rất nhiều cặp vợ chồng thuận tình ly hôn nhưng do điều kiện công việc, khoảng cách địa lý xa xôi không thể có mặt tại Tòa án để giải quyết được thì có quyền làm đơn yêu cầu xét xử vắng mặt gửi đến Tòa án.

Về quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn:

Theo Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, cụ thể là:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”

Theo Khoản 2, Mục II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao về giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân, gia đình thì trường hợp ly hôn của bạn là trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài.

Đối với trường hợp bạn là công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với chồng của bạn là công dân Việt Nam đã đi ra nước ngoài. Ta có các trường hợp sau:

a. Đối với những trường hợp uỷ thác tư pháp không có kết quả vì lý do bị đơn sống lưu vong, không có cơ quan nào quản lý, không có địa chỉ rõ ràng nên không thể liên hệ với họ được, thì Toà án yêu cầu thân nhân của bị đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn và báo cho họ gửi về Toà án những lời khai hoặc tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả, Toà án có thể căn cứ vào những lời khai và tài liệu đó để xét xử theo thủ tục chung.

b. Trường hợp bên đương sự là bị đơn đang ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức hoặc giấu địa chỉ nên nguyên đơn ở trong nước không thể biết địa chỉ, tin tức của họ, thì giải quyết như sau:

– Nếu bị đơn ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức gì về họ (kể cả thân nhân của họ cũng không có địa chỉ, tin tức gì về họ), thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú tuyên bố bị đơn mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật về tuyên bố mất tích, tuyên bố chết.

– Nếu thông qua thân nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước, nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Toà án, thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau khi xét xử Toà án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng.”

Đồng thời, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đối với vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài sẽ do tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết.

Theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc ở Việt Nam thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết.

Vì vậy nếu muốn ly hôn,hai bạn có thể làm đơn lên tòa đến Tòa án cấp tỉnh nơi bạn đang cư trú hay làm việc để yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn cho bạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê