2 vợ chồng tôi lấy nhau từ năm 2007 đến năm 2010 bố mẹ vợ tôi có cho vợ chồng tôi mảnh đất liền bên nhà nhưng chưa sổ đỏ chưa đứng tên vợ tôi, vợ chồng tôi đã nhất trí xây nhà trên mảnh đất mà bố mẹ vợ cho. Nhưng do kinh phí hạn hẹp nên chúng tôi chỉ xây được 1tầng với chi phí xây dựng mất 350 triệu đông đến năm 2017 vợ chồng tôi đã nhất trí xây tiếp từ tâng 1 lên tâng 2. Tổng chi phí xây dựng hết 320 triệu. Đến nay nợ cũ trong khi xây nha tầng 2 vẫn còn 230 triệu. Đâu năm 2018 do mâu thẫn vợ chồng , vợ chồng tôi đã ly thân, và cũng thống nhất sẽ ly hôn. Tôi rất băn khoăn không biết liệu khi tôi và vợ li hôn thì tôi có được chia nửa tài sản căn nhà không ( vì đất vẫn đứng tên mẹ vợ tôi, còn tài sản là của cả 2 vợ chồng )xin anh chị tư vấn giúp và chỉ dẫn các bước để tôi lấy lại tài sản thuộc về mình ( vì tiền bạc bỏ ra xây nhà nhưng tôi phải vay mượn của anh chị em bên nội rất nhiều )trân trọng.

 

Luật sư trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến Luật Minh Khuê, với nội dung bạn yêu cầu chúng tôi xin tư vấn như sau:

Nguyên tắc xác định tài sản chung trong quá trình hôn nhân được Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như vậy tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hô nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Như thông tin bạn cung cấp thì bạn và vợ bạn có vay mượn để xây dựng nhà trên đất của bố mẹ vợ cho nhưng không làm thủ tục sang tên. Như vậy theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì đây được coi là tài sản chung của hai vợ chồng. Khi ly hôn thì tài sản của hai vợ chồng sẽ được chia theo nguyên tắc sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Như vậy về nguyên tắc việc chia tài sản khi ly hôn căn cứ vào sự thỏa thuận của hai vợ chồng, trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được thì sẽ căn cứ vào nguyên tắc chia tài sản trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cụ thể về nguyên tắc chia đôi nhưng có dựa vào công sức đóng góp cũng như điều kiện của hai bên

Đối với trường hợp của bạn thì nếu hai vợ chồng không thỏa thuận được tòa án sẽ căn cứ vào giá trị thực tế của căn nhà và khoản nợ còn lại để làm căn cứ chia tài sản cho hai vợ chồng bạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê