Thời hiệu yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật
Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã liệt kê những trường hợp kết hôn trái pháp luật: kết hôn do bị cưỡng ép, bị lừa dối; kết hôn mà chưa đủ tuổi; kết hôn với người đang có vợ hoặc có chồng; với người mất năng lực hành vi; kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc có họ hàng trong phạm vi ba đời; kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với những người đã từng là con nuôi, giữa bố chồng với con dâu, giữa mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; kết hôn giữa những người cùng giới tính.

Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2002 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành luật Hôn nhân và Đgia đình năm 2000 quy định: nếu sau khi bị ép buộc, lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn mà bên bị ép buộc, bị lừa dối, bị cưỡng ép đã biết, nhưng đã thông cảm và tiếp tục chung sống hoà thuận, thì không quyết định huỷ kết hôn trái pháp luật. Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu toà án giải quyết việc ly hôn, thì toà thụ lý vụ án để giải quyết việc ly hôn theo thủ tục chung.

Quy định trên liên quan đến quy định của BLTTDS về thời hiệu yêu cầu giải quyết việc “huỷ kết hôn trái pháp luật” và có những bất cập. Theo Điều 159 khoản 2 BLTTDS, toà án chỉ thụ lý giải quyết việc huỷ kết hôn trái pháp luật trong thời hạn một năm, kể từ ngày biết quyền lợi của mình bị xâm hại, làm phát sinh quyền yêu cầu. Sau thời hạn này tòa án sẽ không thụ lý giải quyết nữa. Vấn đề là hiểu như thế nào về ngày phát sinh quyền yêu cầu? Chẳng hạn, A và B kết hôn trái pháp luật tháng 1/2005 đến thời điểm tháng 1/2007 mới có đơn yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật. Trong trường hợp này tòa án có xác định là hết thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự hay không? Có đặt ra vấn đề quyền yêu cầu phát sinh ngay từ khi quan hệ hôn nhân trái pháp luật đó diễn ra trên thực tế hay đây thuộc trường hợp ngoại lệ không hạn chế về thời gian yêu cầu? Đây là một vấn đề cần thiết phải có hướng dẫn cụ thể. Chúng tôi cho rằng, quan hệ hôn nhân hợp pháp gắn chặt với quyền nhân thân được pháp luật bảo hộ. Điều 24 của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 quy định: “quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Tại khoản 2 Điều 25 BLDS có quy định việc bảo vệ quyền nhân thân “Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai”. Vì vậy, đối với việc hủy hôn nhân trái pháp luật có cơ sở trong việc áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 160 BLDS năm 2005: “Không áp dụng thời hiệu yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

.Tư vấn Những trường hợp được hủy đăng ký kết hôn trái luật?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  - 1900 6162


Bên cạnh đó, chúng tôi cho rằng, việc xác định thời hiệu yêu cầu và giải quyết những trường hợp hết thời hiệu phải căn cứ vào tính chất của từng yêu cầu:

Đối với yêu cầu toà án giải quyết việc “huỷ kết hôn trái pháp luật” do bị lừa dối, bị ép buộc hoặc bị cưỡng ép kết hôn (Điều 15 khoản 1 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nhưng nếu cuộc sống hôn nhân của người bị lừa dối, bị ép buộc hoặc bị cưỡng ép kết hôn đã được thông cảm, tiếp tục chung sống hoà thuận (như hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán) khi có yêu cầu chấm dứt quan hệ chung sống, toà án sẽ căn cứ vào các quy định pháp luật tương ứng để giải quyết cho ly hôn hay không công nhận quan hệ vợ chồng.

Đối với yêu cầu toà án giải quyết việc “huỷ kết hôn trái pháp luật’ do kết hôn mà chưa đủ tuổi; kết hôn với người đang có vợ hoặc có chồng; với người mất năng lực hành vi; kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc có họ hàng trong phạm vi ba đời; kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với những người đã từng là con nuôi; giữa bố chồng với con dâu; giữa mẹ vợ với con rể; bố dượng với con riêng của vợ; mẹ kế với con riêng của chồng, chủ thể nào có quyền yêu cầu? Và chủ thể của quyền yêu cầu này có bao gồm cả cơ quan viện kiểm sát hay không?Theo quy định tại Điều 15 khoản 2 luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì :

“Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 của luật này” vàĐiều 21 khoản 1 BLTTDS quy định: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc giải quyết các vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”. Vấn đề là, quyền yêu cầu của viện kiểm sát theo quy định của pháp luật hiện hành là gì, có bao gồm quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự hay không? Chúng tôi cho rằng, cần phải xác định lại quyền khởi kiện vụ án dân sự hay việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của nhà nước với các chủ thể được quy định cụ thể tại Điều 162 BLTTDS mà không có chủ thể là viện kiểm sát. Điều này cũng phù hợp với hướng dẫn tại mục 1 phần III “Quyền yêu cầu của viện kiểm sát đối với tòa án” trong thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT - VKSNDTC-TANDTC ngày 1/9/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và sự tham gia của viện kiểm sát trong việc giải quyết vụ việc dân sự. Thông tư này đã giải thích rõ Điều 21 của BLTTDS về quyền yêu cầu của viện kiểm sát đối với tòa án đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo chứ không phải quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc dân sự.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê