1. Quy định mới về mức tiền trợ cấp nuôi con khi bố mẹ ly hôn?

Việc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn được quy định tại Điều 92 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Hướng dẫn quyền nuôi con sau khi ly hôn (Cafe Sáng VTV3) - Luật sư: Lê Minh Trường

Bài viết liên quan:

- Tiền trợ cấp sau khi ly hôn?

“Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 92 thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con". Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lý do nào đó thì Toà án cần giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án không buộc bên kia phải cấp dưỡng nuôi con.

Như vậy, sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con phải cấp dưỡng nuôi con đến khi thành niên (18 tuổi); nếu con thành niên mà không tự nuôi sống được bản thân do bị tàn tật hoặc không có năng lực hành vi dân sự thì người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải có trách nhiệm cấp dưỡng không thời hạn.
Tiền cấp dưỡng nuôi con được quy định tại mục 11 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP như sau: "Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thỏa thuận. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì tùy vào từng trường hợp cụ thể, vào khả năng của mỗi bên mà quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp lý...".

Khi quyết định mức tiền phải cấp dưỡng, tòa án sẽ căn cứ vào mức thu nhập của người cấp dưỡng, vì vậy mức cấp dưỡng thường không cao hơn mức thu nhập của người cấp dưỡng. Tuy nhiên, trong trường hợp mức cấp dưỡng nuôi con tòa án phán quyết vẫn vượt quá khả năng của người cấp dưỡng thì người cấp dưỡng có quyền làm đơn đề nghị tòa án xem xét lại mức cấp dưỡng.

Theo quy định tại: “Điều 53 - Luật Hôn nhân và gia đình có quy định về mức cấp dưỡng như sau: "Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng... Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết”.

Về phương thức cấp dưỡng do các bên thoả thuận định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì Toà án quyết định phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.” Trân trọng./.

>> Xem ngay: Dịch vụ tư vấn pháp luật lĩnh vực Hôn nhân gia đình

2. Tư vấn về ly hôn: chia tài sản chung và nghĩa vụ nuôi con, cấp dưỡng thuộc về ai ?

Kính chào luật sư! Hiện tại tôi muốn Quý công ty cung cấp giúp tôi dịch vụ tư vấn ly hôn. Đây là trường hợp của chị tôi nhưng vì lý do kinh tế và công việc nên chị tôi ko thể lên HN để nhờ luật sư tư vấn được. Vì vậy tôi thay mặt chị mình muốn nhờ luật sư tư vấn giúp tôi về trường hợp của chị mình ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Vì bạn không trình bày rõ bạn và chồng có yêu cầu thuận tình ly hôn hay đơn phương ly hôn. Do đó có hai trường hợp có thể xảy ra như sau:

Một là, bạn và chồng thuận tình ly hôn

Trong trường hợp này nếu vợ và chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, nuôi con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án sẽ ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết theo pháp luật. (Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014).

Trong trường hợp thuận tình ly hôn hai bạn có thể nộp đơn tại Tòa án nhân dân quận/huyện nơi hai vợ chồng bạn đang cư trú.

Hai là, bạn đơn phương ly hôn

Trường hợp này bạn phải có căn cứ về việc chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án mới giải quyết ly hôn cho bạn. Bạn có thể nộp đơn ly hôn đơn phương tại Tòa án nhân dân quận/huyện nơi chồng bạn cư trú. Việc phân chia tài sản và nuôi con sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật, cụ thể:

- Tài sản:

Tài sản khi ly hôn sẽ được chia theo nguyên tắc "Tài sản riêng của ai sẽ thuộc về người đó, tài sản chung sẽ được chia đôi" nhưng có tính tới một số yếu tố như: lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng, công sức đóng góp của vợ chồng... Cụ thể Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."
- Con cái:
Theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, theo quy định pháp luật trên thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho bên nào đáp ứng đầy đủ quyền lợi về mọi mặt cho con. Nhưng cần lưu ý một số vấn đề như: con dưới 36 tháng được giao cho mẹ nuôi trừ trường hợp vợ chồng bạn có thỏa thuận khác hoặc bạn không có đủ điều kiện để trưc tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con; con trên 7 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Tòa án sẽ căn cứ vào thu nhập của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng để quyết định mức cấp dưỡng sao cho phù hợp, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 116. Mức cấp dưỡng
1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết..."

>> Tham khảo bài viết liên quan: Phân chia tài sản và quyền nuôi con khi ly hôn với chồng bạo hành gia đình ?

3. Thủ tục ly hôn đơn phương và trách nhiệm cấp dưỡng sau ly hôn như thế nào ?

Kính chào công ty luật Minh khuê: xin tư vấn cho trường hợp của em như sau: em đã lập gia đình, sau khi kết hôn vợ chồng em sống chung bên gia đình vợ, mọi thủ tục giấy tờ đều do vợ em giữ. Bây giờ em muốn ly hôn nhưng vợ không đồng ý giờ em muốn làm đơn ly hôn đơn phương nhưng không đủ thủ tục vì vợ không cho mượn. Em hỏi thêm em đã có con nhưng sau khi sinh đã xác định không phải con ruột em vậy sau khi li hôn em có phải chịu trách nhiệm cấp dưỡng không?
Xin cảm ơn!

Thủ tục ly hôn đơn phương và trách nhiệm cấp dưỡng sau ly hôn như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua điện thoại gọi:1900.6162

Trả lời:

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Và Điều 88; 89 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Điều 89. Xác định con

1. Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.

2. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình."

Như vậy, theo quy định pháp luật trên thì bạn hoàn toàn có quyền làm đơn xin ly hôn với vợ của bạn và đồng thời yêu cầu Tòa án xác minh đây không phải là con mình.

- Thủ tục đơn phương ly hôn:

Hồ sơ ly hôn, gồm:

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

+ Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

+ Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

+ Đơn xin ly hôn (Theo mẫu)

- Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân quận, huyện nơi cư trú của vợ bạn.

Tuy nhiên trong trường hợp này thì mọi giấy tờ kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh của các con đều do vợ của bạn nắm giữ do đó bạn có thể làm như sau:

+ Về hộ khẩu: Liên hệ với công an cấp phường, xã nơi bạn thường trú nhờ nơi đây xác nhận rằng bạn là nhân khẩu thường trú tại địa phương. Việc xác nhận này bạn có thể làm một đơn riêng, cũng có thể nhờ công an xác nhận ngay vào đơn xin ly hôn.

+ Về hôn thú: Liên hệ với cơ quan hộ tịch nơi bạn đăng ký kết hôn trước đây để xin cấp bản sao.

+ Về khai sinh: Liên hệ với cơ quan hộ tịch nơi bạn đăng ký khai sinh cho con trước đây để xin cấp bản sao.

Khi liên hệ với các cơ quan chức năng để làm các giấy tờ nói trên, bạn có thể nói rõ về chuyện vợ bạn cầm hết giấy tờ và bạn muốn ly hôn nhưng vợ bạn không đồng ý cho các cơ quan chức năng, kể cả tòa án biết để các cơ quan này nhiệt tình giúp đỡ bạn. Khi nộp đơn cho tòa án, nếu vẫn thiếu giấy tờ nào đó theo yêu cầu của tòa án mà bạn không thể bổ sung được thì bạn cứ xin tòa nhận đơn, trong quá trình thụ lý và giải quyết tòa án sẽ yêu cầu vợ bạn bổ sung sau.

- Còn về cấp dưỡng khi đã xác định được không phải con ruột của bạn thì căn cứ vào khoản 2 của điều 88 và khoản 2 của điều 89 của luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì bạn không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

"Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con."

>> Tham khảo bài viết liên quan: Nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thăm nuôi con sau khi ly hôn ?

4. Tư vấn về mức cấp dưỡng cho con khi ly hôn ?

Thưa luật sư, mong luật sư tư vấn giúp tôi vấn đề sau: 1/ Cấp dưỡng nuôi con khi tôi bị thất nghiệp: Tôi và vợ tôi đã được tòa quyết định ly hôn vào tháng 5/2013 và phải trợ cấp nuôi con 02 cháu là : 2.000.000đồng/cháu. nhưng đến cuối tháng 5/2013 thì tôi bị thất nghiệp (có quyết định nghỉ việc) nên tôi đã gởi đơn yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng lên tòa vào tháng 7/2013 và cho đến 12/12/2013 tòa mới xử.

Và cho đến tháng 9/2013 đã có việc làm mới mà thu nhập thấp hơn công ty cũ. Vậy cho tôi hỏi trong thời gian thất nghiệp từ tháng 5/2013 đến tháng 9/2013 tôi không phải trợ cấp vì tôi không có thu nhập không (vì tháng 7/2013 tôi đã gởi đơn yêu cầu tha đổi mức cấp dưỡng lên tòa), phải không? Nếu có thì mức trợ cấp có được tính theo thu nhập mới hiện tại cũa tôi không?

2/ Phân chia tài sản sau khi quyết định ly hôn: Trong thời gian yêu cầu li hôn thì chúng tôi không yêu cầu phân chia tài sản chung, với lý do: Tôi đồng ý làm hợp đồng ủy quyền cho vợ tôi được quyền mua bán mảnh đất và nhà nhưng với điều kiện là vợ tôi phải đưa tôi 80.000.000đ, lần 01 trả 25.000.000đồng. nhưng đến giời vẫn chưa trả cho tôi số tiền còn lại ( có đính kèm hợp đồng ủy quyền) mà bây giờ vợ tôi đã chuyển tên mảnh đất đó sang tên người khác đứng tên rồi. Vậy nay tôi muốn phân chia tài sản này và tôi đồng ý trả lại số tiền tôi đã nhận có được không?

3/ Nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Trong thời kỳ hôn nhân tôi có đứng ra vay tiền của ngân hàng và mở thẻ tín dụng của ngân hàng và chỉ có mình tôi đứng tên, (do lúc đó chỉ có mình tôi đi làm thôi). Mục đích vay là để làm ăn và phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày cho gia đình thôi. Vậy khoản nợ này có được coi là nợ chung của 2 vợ chồng không?

4/ Vay vốn ngân hàng với số chứng minh nhân dân mới: Trong quá trình bị mất xe và mất luôn giấy chứng minh nhân dân, nên tôi có nhờ người anh đi lại giúp và tôi không biết là nhờ đi làm giúp như vậy là sai qui định nên tôi và người anh bị lập biên bản và phạt tiền từ đó số chứng minh nhân dân của tôi đã thay đổi . Và do vợ tôi không cho tôi ở chung nhà nữa tôi đã chuyển hộ khẩu qua địa chị mới của ba mẹ và sang tên trên sổ đỏ cho ba mẹ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn tôi đứng tên chủ hộ. Do mua nhà trả góp, nên tôi đã đứng ra vay ngân hàng và dùng tài sản của ba me để thế chấp cho ngân hàng để trả tiền mua nhà và đất và có mở thẻ tín dụng nữa (đứng vay với số chứng minh nhân dân mới). Vậy tôi làm như vật co bị vi phạm pháp luật không?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến, gọi 1900.6162

Trả lời:

Tình huống 1:

Theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn như sau:

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Căn cứ vào quy định trên và những thông tin bạn đưa ra khi vợ chồng bạn ly hôn bạn phải cấp dưỡng cho 2 con của bạn với mức cấp dưỡng là 2 triệu/cháu nhưng từ từ tháng 5/2013 đến tháng 9/2013 bạn bị thất nghiệp và không có thu nhập thì trong trường hợp này bạn vẫn phải cấp dưỡng cho 2 con của bạn. Bởi vì cấp dưỡng được coi là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn nên khi bạn không có thu nhập thì bạn vẫn phải cấp dưỡng cho 2 con của bạn. Mức trợ cấp của bạn trong thời gian này vẫn là 2 triệu đồng/cháu. Chỉ khi toàn án tiến hành xem xét đơn và chấp nhận thay đồi mức cấp dưỡng của bạn thì mức cấp dưỡng mới được thay đổi.

Tình huống 2:

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình về tài sản chung của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi khi ly hôn 2 bạn không yêu cầu phân chia tài sản chung mà bạn làm hợp đồng ủy quyền để vợ bạn có quyền bán đất và nhà sau đó vợ bạn phải trả cho bạn 80 triệu thì sau khi ly hôn lúc này thời kỳ hôn nhân đã chấm dứt số tài sản đất và nhà không phải là tài sản chung của bạn và vợ bạn trong thời kỳ hôn nhân nên bạn không thể yêu cầu chia số tài sản trên được.

Tình huống 3:

Điều 37 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng như sau:

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Trong thời kỳ hôn nhân bạn có đứng ra vay tiền của ngân hàng và mở thẻ tín dụng của ngân hàng và chỉ có mình bạn đứng tên, mục đích vay là để làm ăn và phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày cho gia đình thì khoản nợ trên được coi là nợ chung của 2 vợ chồng bạn.

Tình huống 4:

Điều 342 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

Điều 342. Thế chấp tài sản

1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.

Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp.

Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai.

2. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.

3. Việc thế chấp quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 715 đến Điều 721 của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi do vợ bạn không cho bạn sống chung trong nhà nữa nên bạn đã chuyển nhượng sang tên để bố mẹ bạn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đẩt và sau đó dùng mảnh đất mà bố mẹ bạn đứng tên để mua nhà, đất và mở thẻ tín dụng thì việc làm của bạn đã vi phạm quy định của pháp luật. Bởi vì về nguyên tắc khi bạn thực hiện giao dịch của mình thì bạn phải lấy tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ cho bạn chứ không được dùng tài sản của người khác để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ.

5. Cấp dưỡng cho con khi ly hôn ?

Thưa Luật sư. Xin Luật sư tư vấn cho tôi vấn đề như sau: Hiện nay, tôi và chồng tôi đã nộp đơn ly hôn ra Tòa án. Luật sư cho tôi hỏi, trường hợp tôi được Tòa tuyên cho nuôi con thì chồng tôi phải cấp dưỡng cho con bao nhiêu ?
Mong Luật sư tư vấn. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hôn nhân về quyền nuôi con, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 :

“Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Trong trường hợp của bạn, 2 vợ chồng bạn có thể thỏa thuận về mức cấp dưỡng khi nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay chưa có bất kỳ một văn bản nào quy định cụ thể về số tiền cấp dưỡng nuôi con là bao nhiêu do sự phong phú, đa dạng và rất khác nhau của mỗi hoàn cảnh, môi trường và điều kiện cũng như mức thu nhập của người không trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên, khi xem xét quyết định mức cấp dưỡng, Tòa án sẽ dựa trên mức lương của chồng bạn, đồng thời cũng dựa trên những chi phí tối thiểu cần thiết cho việc nuôi dưỡng chăm sóc con, chẳng hạn như chi phí về ăn, mặc, ở học hành, khám, chữa bệnh, những chi phí tối thiểu để đảm bảo cuộc sống của một người bình thường.

>> Xem ngay: Ly hôn đơn phương vắng mặt có được không ?

6. Trách nhiệm trong nom và cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn ?

Cháu chào luật sư!. Cháu tên Ngọc,hiện sống tại Sơn.Cháu năm nay 23 tuổi,cháu kết hôn được hơn 1 năm thì quyết định ly hôn,và tính đến thời điểm hịên tại thì cháu ly hôn được 7 tháng, cháu có được 1 bé trai được 15 tháng. Lúc đầu ly hôn cháu không thấy bất tiện gì về việc cấp dưỡng và thăm nom con cả nhưng mấy tháng gần đây,gia đình chồng cũ thường xuyên ra thăm nom và đón về trên nhà nội (dù không đựơc sự cho phép của cháu) và còn ra gây khó dễ,xúc phạm tới cháu và gia đình cháu. Hiện tại con cháu đang đi gửi mẫu gíao,nhưng gia đình chồng cũ thường xuyên ra trường mẫu gíao để thăm nom và thậm chí còn đón về khi chưa hỏi ý kiến của cháu.làm ảnh hưởng tới việc học tập và gíao dục của con cháu. Còn về tiền trợ cấp, tòa án có quy định ngày 15 hàng tháng chồng cũ phải đưa tiền trợ cấp nuôi con (1triệu) nhưng chồng cũ không đưa đúng ngày được tòa án quy định,có khi tới 2,3 tháng mới đưa 1 lần. Vậy cháu muôn hỏi rằng bây gìơ cháu muốn làm đơn không cho chồng cũ gặp con, đón con và tiền trợ cấp tăng lên mức 2 triệu/tháng,chuỷên thẳng vào tài khoản của cháu thông qua lương chồng cũ có đựơc không ạ? Và cháu cũng muốn đổi họ và nơi sinh của con trai sang thành họ và nơi sinh của mẹ (là cháu) có đựơc không ạ?
Cháu xin trân trọng cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, quyền yêu cầu Tòa án hạn chế chồng thăm non con sau khi ly hôn.

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn (Luật hôn nhân và gia đình năm 2014)

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Như vậy, đối với trường hợp của bạn việc chồng bạn thường xuyên đến thăm non con thì bạn không được phép ngăn cản. Tuy nhiên, nếu chồng bạn lạm dụng việc thăm non đó gây ảnh hưởng đến sinh hoạt, giáo dục, học tập thực tế của con bạn thì bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền chồng bạn thăm non con.

Thứ hai, yêu cầu chồng thay đổi về mức cấp dưỡng cho con sau khi ky hôn.

Theo quy định của pháp luật, người không trực tiếp nuôi dưỡng con có nghĩa vụ cấp dưỡng theo phương thức định kỳ hàng tháng, hàng năm hoặc một lần là do các bên thỏa thuận và các bên có thể thỏa thuận về phương thức cấp dưỡng (nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết).

Điều 117. Phương thức cấp dưỡng

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo như trường hợp của bạ, bây giờ bạn muốn thay đổi mức cấp dưỡng từ (1 triệu/tháng) lên mức cấp dưỡng là 2tr/tháng cho con là có thể nếu có lý do chính đáng. "Lý do chính đáng" ở đây tức là với mức cấp dưỡng 1triệu/tháng sẽ không đảm bảo và gây ảnh hưởng cho việc chăm sóc, học tập, giáo dục sự trưởng thành bình thờng cho cháu. Khi đó, trước hết bạn phải thỏa thuận với chồng bạn nâng mức cấp dưỡng nếu không bạn có thể yêu cầu Toàn án giải quyết để thay đổi mức cấp dưỡng cho phù hợp.

Thứ 3, Chồng không thực hiện đúng nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo bản án quyết định của Tòa án?.

Điều 119. Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

...............................................................................

Nếu chồng bạn có hành vi trốn tránh nghĩa vụ hoặc không tự nguyện thực hiện đúng nghĩa vụ đã được có bản án, quyết định của Tòa án thì bạn hoàn toàn có thể yêu cầu Tòa án buộc chồng bạn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đó.

Bên cạnh đó, nếu việc chồng bạn vẫn cố chấp không chịu thực hiện nghĩa vụ thì bạn có thể yêu cầu để xử phạt hành chính đối với hành vi của chồng bạn cụ thể theo Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành vi hành chính trong lĩnh vực bộ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dấn sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Điều 52.Hành vi vi phạm quy định trong hoạt động thi hành án dân sự.

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không thực hiện công việc phải làm, không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản án, quyết định;

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Hôn nhân gia đình - Công ty luật Minh Khuê