Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật Hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội

Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội

2. Luật sư tư vấn:

Trong phần trình bày của bạn, bạn chưa cung cấp thông tin chính xác rằng thời điểm bạn mua căn nhà trên là trước thời kỳ hôn nhân hay trong thời kỳ hôn nhân. Vì vậy, để giải đáp cho bạn, chúng tôi phân thành hai trường hợp:

- Nếu bạn mua căn nhà trên vào trước thời kỳ hôn nhân thì đây được xác định là tài sản riêng của bạn. Vì vậy, bạn hoàn toàn có quyền định đoạt với khối tài sản này mà không cần hỏi ý kiến của vợ, cũng như không cần đến giấy đăng ký kết hôn đê bán căn nhà.

- Nếu bạn mua căn nhà trên trong thời kỳ hôn nhân, thì đây được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Theo đó, pháp luật có quy định:

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 thì:

"Điều 98. Nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất

4. Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.

Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu."

Theo như quy định trên, nếu căn nhà mà bạn mua là tài sản chung của vợ chồng, thì khi bạn đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở thì cần phải có giấy đăng ký kết hôn và ghi cả tên vợ và chồng. Trừ trường hợp vợ chồng bạn thỏa thuận chỉ ghi tên bạn. Theo đó, tại Điều 35 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình."

Trong trường hợp này, nếu căn nhà được xác định là tài sản chung của vợ chồng, thì khi bạn bán căn nhà này cần phải có sự đồng ý của vợ mình, và phải có sự thỏa thuận bằng văn bản giữa hai vợ chồng.

Tham khảo bài viết liên quan:

Tài sản chung của vợ chồng ?

Chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn?

Biên bản thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hôn nhân.