Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê, trường hợp của bạn được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

2. Chuyên viên tư vấn:

Theo như thông tin bạn nêu trên thì bạn cần xác định rõ một số nội dung sau để giải quyết vấn đề của mình:

Khi các cá nhân thực hiện việc kết hôn thì phải đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình:

Thứ nhất, điều kiện về độ tuổi 

Khi nam nữ thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền về đăng ký kết hôn thì phải đảm bảo điều kiện về độ tuổi. Nếu theo quy định của pháp luật trước đây là Luât hôn nhân và gia đình năm 2000 thì nam chỉ cần:

"Điều 9. Điều kiện kết hôn

Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

1. Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên"

Nghĩa là nam chỉ cần 19 tuổi 1 ngày cũng đủ điều kiện để thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn, nữ chỉ cần 17 tuổi 1 ngày cũng đủ điều kiện để thực hiện thủ tục để đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thì độ tuổi đăng ký kết hôn được quy định như sau:

Điều 8. Điều kiện kết hôn
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

Như vậy theo quy định của pháp luật hiện hành thì nam phải từ đủ 20 tuổi ( phải vào ngày sinh nhật lần thứ 20 trở về sau thì người nam mới đủ điều kiện đăng ký kết hôn), nữ phải từ đủ 18 tuổi ( kể từ lần sinh nhật thứ 18 trở đi thì người nữ mới đủ điều kiện để đăng ký kết hôn) thì được đăng ký kết hôn.

Thứ hai, việc đăng ký kết hôn phải đảm bảo tính tự nguyện:

Khi nam nữ thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn sẽ phải dựa trên tinh thần tự nguyện của hai bên không được ai ép buộc, áp đặt ý trí lên chủ thể thực hiện việc đăng ký kết hôn. Việc kết hôn phải là mong muốn từ hai phía, là tình cảm của hai người yêu thương nhau và muốn gắn kết dài lâu trên quãng đường đời mà mới quyết định đăng ký kết hôn mà không chịu bất kỳ sự tác động nào từ phía người thân hay bất kỳ chủ thể nào khác.

Thứ ba, người thực hiện việc đăng ký kết hôn không bị mất năng lực hành vi dân sự:

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì người bị mất năng lực hành vi dân sự được hiểu gồm các chủ thể sau:

Điều 22. Mất năng lực hành vi dân sự
1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
2. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.

Như vậy, khi thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền để đảm bảo chặt chẽ điều kiện này, bên công chức tư pháp hộ tịch thường yêu cầu các bên cung cấp giấy khám sức khỏe của các bên, nên những người bị mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và điều kiển hành vi thì sẽ không được thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn với người khác giới.

Thứ tư, việc kết hôn không thuộc các trường hợp cấm kết hôn theo quy định ( Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014)

Nếu như bạn thuộc một trong các trường hợp sau thì bạn cũng sẽ bị cấm kết hôn:

a) Kết hôn giả tạo

Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình. Nếu như cá nhân thực hiện hoạt động kết hôn giả tạo thì sẽ bị xử phạt theo Nghị định 110/2013/NĐ-CP:

Điều 28. Hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết hôn và môi giới kết hôn
4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích xuất cảnh, nhập cảnh; nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài;
b) Lợi dụng việc kết hôn để hưởng chế độ ưu đãi của nhà nước hoặc để thực hiện các mục đích trục lợi khác.

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật này.

 Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ.

 Cản trở kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này hoặc buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

Như vậy đối chiếu với trường hợp của bạn nêu ra thì khi nam nữ đủ tuổi muốn đăng ký kết hôn thì không ai được quyền cản trở việc tự nguyện đăng ký kết hôn của hai bên, tuy nhiên khi đăng ký kết hôn thì hai bên sẽ phải đảm bảo các điều kiện nêu trên theo quy định của pháp luật hôn nhân, nếu như việc người a bị thiểu năng trí tuệ bị mất khả năng nhận thức và điều chỉnh hành vi có kết quả giám định của cơ sở pháp y tâm thần thì a sẽ không đủ điêu kiện để đăng ký kết hôn với b, và xét ông ngoại của a và cha của b là anh em ruột thì a và b là chú cháu hoặc cô cháu ( vì bạn chưa nói rõ ai là nam ai là nữ) thì a và b vẫn có quan hệ huyết thống trong phạm vi 3 đời nên không đủ điều kiện để đăng ký kết hôn theo quy định trên.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê