Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình

2. Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, bạn mang thai được 04 tháng mới kết hôn, sau đó được 01 tháng thì vợ chồng bạn ly hôn. Do đó, cần xác định mối quan hệ cha, mẹ con theo Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình như sau:

"Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định."

Như vậy, con của hai bạn được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày vợ chồng bạn ly hôn, vì vậy, cháu vẫn được xem là con chung của hai vợ chồng bạn trong thời kỳ hôn nhân. Theo đó, chồng bạn có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha đối với con theo quy định tại Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội."

Như vậy, trong trường hợp này, sau khi bạn sinh con, chồng bạn hoàn toàn có quyền giành quyền trực tiếp nuôi con, chăm sóc, giáo dục con sau khi hai vợ chồng bạn ly hôn. Tuy nhiên, tại thời điểm vợ chồng bạn ly hôn thì con chưa sinh ra, sau đó, bạn sinh con thì cháu sẽ đương nhiên giao cho bạn nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Chồng bạn muốn thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn phải đáp ứng một trong hai điều kiện theo Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời nộp đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn. Cụ thể như sau:

Trường hợp thứ nhất, bạn đồng ý chấp nhận giao con cho chồng bạn nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn để đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho con.

Trường hợp thứ hai, bạn không muốn chồng bạn nuôi dưỡng con nhưng chồng bạn chứng minh được anh ấy có đủ điều kiện nuôi dưỡng con tốt hơn bạn, còn bạn không có điều kiện, không có khả năng nuôi dưỡng con kể cả đáp ứng được mức tối thiểu nhất cho việc ăn uống, học tập, vui chơi và giải trí cho con.

Trong trường hợp, chồng cũ của bạn không được Tòa án yêu cầu chấp nhận thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con thì bạn cũng không có quyền hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con của chồng bạn căn cứ theo quy định tại Điều 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con."

Trong trường hợp, bạn hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của chồng cũ của bạn thì bạn có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa cha và con theo Điều 53 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định về hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau:

"Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau."

Bạn chỉ có thể được phép hạn chế quyền của chồng cũ của bạn đối với con khi chồng bạn có hành vi thuộc trường hợp quy định tại Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này."

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê