Bây giờ em muốn hỏi nếu ly hôn thì số tiền nợ ngân hàng sẽ được tính như thế nào? Và hình thức thanh toán như thế nào ạ? Số nợ còn lại phải trả là 210 triệu đồng và nếu vợ em đủ khả năng chi trả sẽ như thế nào? Mong sớm nhận được phản hồi của công ty. Em xin cảm ơn.

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2. Luật sư tư vấn:

Căn cứ quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng như sau:

"Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan."

Theo đó, trường hợp của vợ chồng bạn là sau khi kết hôn, hai bạn có mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sổ đỏ) của ba mẹ bạn vay làm quán cà phê và quán nét trên mảnh đất được vay với số tiền 300 triệu đồng. Do làm ăn thua lỗ nên vợ chồng bạn đã thanh lý lại được 80 triệu đồng. Số tiền này cho vợ bạn đi học make up. Nhưng giờ hai vợ chồng bạn ly hôn vì bạn biết cô ấy ngoại tình và không lo cho gia đình. Như vậy, khoản vay ngân hàng 300 triệu là khoản vay chung của cả hai vợ chồng bạn hình thành trong thời kỳ hôn nhân, sử dụng chung vì mục đích chung của cả hai vợ chồng bạn, để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình nên cả bạn và vợ bạn đều có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng theo quy định của Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Chính vì vậy, trong trường hợp này, bạn và vợ bạn nên tự thỏa thuận với nhau về khoản nợ ngân hàng để có phương án giải quyết tốt nhất cho ngân hàng. Trong trường hợp, vợ chồng bạn không thể thỏa thuận được với nhau về vấn đề phân chia khoản nợ ngân hàng chung của hai vợ chồng, lúc này, bạn có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết để quyết định phân chia nghĩa vụ trả nợ cho hai vợ chồng bạn, ngân hàng sẽ là bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án ly hôn của vợ chồng bạn.

Về nguyên tắc, khoản nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sau khi ly hôn sẽ được chia đôi theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nhưng có tính đến các yếu tố sau:

Một là, hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng. Trong trường hợp này, khoản nợ chung của hai vợ chồng bạn nếu hoàn cảnh của vợ khó khăn thì vợ bạn có thể chỉ phải trả tiền ngân hàng ít hơn so với bạn.

Hai là, công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn. 

Ba là, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự. 

Bốn là, mỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn. Ví dụ: Một trong hai bên có hành vi bạo lực gia đình, có hành vi ngoại tình, không quan tâm, chăm sóc các thành viên trong gia đình,...

Như vậy, tùy từng trường hợp, khoản nợ chung còn lại của hai vợ chồng bạn là 210 triệu đồng, hai bạn nên tự thỏa thuận với nhau để trả tiền cho ngân hàng đúng thời hạn mà bên ngân hàng quy định. Trong trường hợp không thỏa thuận được với nhau thì hai bạn có quyền yêu cầu Tòa án để giải quyết khoản nợ chung của hai vợ chồng khi ly hôn.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê