Có được chia đôi khi ly hôn không ạ? Anh chồng thì không chịu chia đôi vì nghĩ đó là tài sản của Anh ta. Nếu không thỏa thuận được thì tòa án xử lý mình phải chịu phí bao nhiêu?
Người gửi: N.T Tưởng

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900.6162

Giải quyết tranh chấp tài sản và quyền nuôi con khi ly hôn

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Liên quan đến câu hỏi của bạn, xin được trả lời như sau:

Theo quy định tại điều 95 và điều 97 Luật hôn nhân gia đình 2000 (văn bản thay thế: Bộ luật hôn nhân gia đình năm 2014) thì nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn, trước hết pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, sau đó mới xem xét đến các căn cứ khác.

Trường hợp của anh chị bạn, mặc dù mảnh đất đó được anh rể bạn mua trước khi anh chị bạn kết hôn, nhưng sau đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cả hai anh chị bạn; có nghĩa là ở đây giữa anh chị bạn đã có sự thỏa thuận, thống nhất ý trí trong việc đưa tài sản riêng (là mảnh đất của anh rể bạn) sáp nhập vào khối tài sản chung của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, tài sản khi ly hôn của hai vợ chồng sẽ có cả mảnh đất đó.

Đối với vấn đề chia tài sản vợ chồng khi ly hôn, theo tinh thần của Luật hôn nhân gia đình, nguyên tắc sẽ là chia đôi, tuy nhiên có sự xem xét đến công sức đóng góp của mỗi người. Nói cách khác, nếu anh rể của bạn đưa ra căn cứ chứng minh cho sự đóng góp của mình nhiều hơn vào khối tài sản chung đó thì Tòa án trên cơ sở đó sẽ xem xét quyền lợi cho anh rể bạn nhiều hơn.

Về vấn đề án phí, Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 về án phí, lệ phí Tòa án có quy định cụ thể. Do bạn không nêu cụ thể giá trị mảnh đất của bạn là bao nhiêu nên chúng tôi không thể đưa ra mức án phí cụ thể cho bạn. Tuy nhiên, bạn có thể tham khảo trong bảng biểu dưới đây:

Giá trị tài sản có tranh chấp Mức án phí
a. Từ 4.000.000 đồng trở xuống 200.000 đồng
b.Từ trên 4.000.000 đến 400.000.000 triệu đồng 5% giá trị tài sản có tranh chấp
c. Từ trên 400.000.000 đến 800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp 

vượt quá 400.000.000 đồng

d. Từ trên 800.000.000 
đến 2.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp 

vượt quá 2.000.000.000 đồng

e. Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp 

vượt quá 4.000.000.000 đồng

 

Ý kiến trả lời bổ sung:

Cảm ơn chị đã gửi câu hỏi về chuyên mục của chúng tôi. Câu hỏi của chị được chúng tôi trả lời như sau:

1. Vậy tài sản mảnh vườn đó có phải tài sản chung không ạ?

Tài sản mảnh vườn đó chính là tài sản chung giữa 2 vợ chồng anh chị bạn.

Căn cứ theo Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì một trong những loại tài sản chung giữa hai vợ chồng đó là tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Việc làm sổ đỏ sang tên chung cho 2 vợ chồng là một hình thức thỏa thuận giữa 2 người công nhận tài sản mảnh vườn là tài sản chung.

2. Có được chia đôi khi ly hôn không ạ?

Mảnh vườn đó có thể được chia đôi phụ thuộc vào Tòa án xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này (Điều 95 khoản 2 điểm a Luật HN & GĐ)

3. Nếu không thỏa thuận được thì tòa án xử lý mình phải chịu phí bao nhiêu?

Khi giải quyết vụ án ly hôn của anh chị bạn Tòa án Nhân dân quận, huyện nơi 2 người đang cư trú sẽ xử lý phân chia tài sản chung giữa hai vợ chồng. Án phí ly hôn theo quy định của pháp luật là 200.000 Việt Nam đồng. Nếu có liên quan đến việc chia tài sản thì bạn phải chịu thêm mức án phí tương ứng tỉ lệ với tài sản được chia theo qui định của pháp luật, bạn có thể tham khảo trong bảng dưới đây:

Giá trị tài sản có tranh chấp

Mức án phí

a) Từ 4.000.000 đồng trở xuống 

 300.000 đồng

b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

 

Và theo quy định tại Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự thì “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trong trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm”. Như vậy, việc chị bạn phải nộp bao nhiêu tiền phí ly hôn còn phụ thuộc vào ai là người nộp đơn ra tòa và giá trị mảnh đất mà hai vợ chồng đang có tranh chấp./

 

Trả lời bổ sung:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Điều 27, luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

“Điều 27. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.”

Trong trường hợp của bạn, đối chiều với quy định của điều luật trên ta thấy rằng anh rể của bạn có mua một mảnh vườn trước khi kết hôn. Vậy theo quy định trên thì mảnh vườn này là tài sản riêng của anh rể bạn, thế nhưng sau khi kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chung cho cả hai vợ chồng. Vậy rõ ràng trong trường hợp này, mặc dù tài sản có trước thời kỳ hôn nhân nhưng vợ chồng anh rể bạn đã thỏa thuận là tài sản chung và nó được chứng minh bằng việc đứng tên của cả hai vơ chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, căn cứ vào điểm a, khoản 1, điều 95 Luật hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được chia đôi cho vợ và chồng. Trường hợp hai bên không tự thỏa thuận được và yêu cầu tòa án giải quyết thì án phí sẽ được tính như sau:

Giá trị tài sản có tranh chấp

Mức án phí

a) Từ 4.000.000 đồng trở xuống

 300.000 đồng

b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

 

Ý kiến trả lời bổ sung:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Vấn đề của bạn công ty xin giải đáp như sau:

Theo quy định Điều 27 Luật hôn nhân gia đình năm 2000:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”.

Theo như bạn trình bày thì mảnh vườn là do anh rể bạn mua trước thời kì hôn nhân, đó là tài sản riêng. Nhưng mảnh vườn này đã làm bìa đỏ sang tên cho 2 vợ chồng, điều này có nghĩa là anh rể bạn đã hợp nhất tài sản của mình vào khối tài sản chung của 2 vợ chồng và mảnh vườn này thuộc sở hữu chung hợp nhất. Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn, Điều 95 quy định:

“1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Bên cạnh đó, Điều 97 về chia quyền sử dụng đất của vợ, chồng khi ly hôn: việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 95 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;..."

Như vậy, theo quy định tại Điều 95 và điều 97 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: mảnh vườn của anh chị bạn sẽ được chia đôi, có xem xét đến hoàn cảnh, công sức.... của mỗi bên. Bên nào có nhu cầu và điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà mình được hưởng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê 

-------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Tư vấn pháp luật lao động;

2. Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

3. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

4. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;