1. Thủ tục và giấy tờ cần thiết gì để làm khai sinh cho con khi cha mẹ không có đăng ký kết hôn? Khi làm khai sinh, phần người cha có cần phải gửi giấy về địa phương bên đó chứng nhận hay không?

2. Hai người có quan hệ tình cảm với nhau. Khi cô gái mang thai, yêu cầu kết hôn thì mới biết người đàn ông đã có gia đình và từ chối quyền, trách nhiệm làm cha. Vậy cô gái có được quyền kiện anh ta và yêu cầu trách nhiệm chu cấp hay không? Thủ tục khiếu kiện ra sao?

Rất mong nhận được tư vấn của luật sư. 

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: L.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân gia đình của Công ty Luật Minh Khuê.

 

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục tư vấn pháp luật hôn nhân của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

-Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch.

-Luật hôn nhân gia đình 2014

-Bộ luật tố tụng dân sự.

Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, về vấn đề khai sinh cho con:

Việc hai người không có đăng ký kết hôn mà có con thì con được gọi là con ngoài hôn nhân ( con ngoài giá thú). Con ngoài hôn nhân được thực hiện khai sinh và thủ tục như sau:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định:

Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.

Như vậy, nếu bố đứa bé đồng tình, hai người hoàn toàn có thể cùng nhau đi khai sinh cho con, đặt tên con theo họ bố với thủ tục rất đơn giản. Trường hợp chồng không đồng ý, vợ hoàn toàn có thể đăng ký khai sinh cho con với duy nhất tên người vợ trong cột “Họ và tên mẹ” và con được lấy họ theo họ mẹ. Do đó, việc khai sinh này, về phần người cha không cần phải gửi về địa phương của người cha để xác nhận.

 Về thủ tục đăng ký khai sinh cho con trong trường hợp trên:

Như đã nói ở trên, vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.

Tại Điều 15, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch có quy định:

1. Người đi đăng ký khai sinh phải nộp giấy chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha mẹ có đăng ký kết hôn).

Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế thì Giấy chứng sinh được thay thế bằng giấy xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người làm giấy khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.

Trong trường hợp cán bộ tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ em thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.

2. Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh. Bản sao giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh.

3. Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha ghi trong sổ đăng ký khai sinh và giấy đăng ký khai sinh để trống. Nếu tại thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã kết hợp việc nhận con và đăng ký khai sinh”.

Về thủ tục nhận cha cho con, Điều 34, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch có quy định:

“1. Người nhận cha, mẹ, con phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định). Trong trường hợp cha hoặc mẹ nhận con chưa thành niên, thì phải có sự đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích, mất năng lực hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Kèm theo Tờ khai phải xuất trình các giấy tờ sau đây:

a) Giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao) của người con;

b) Các giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con (nếu có)

2. Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng sự thật và không có tranh chấp, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký việc nhận cha, mẹ, con.

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày.

3. Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, các bên cha, mẹ, con phải có mặt, trừ trường hợp người được nhận là cha hoặc mẹ đã chết. Cán bộ tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký việc nhận cha, mẹ, con và Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của các bên”.

Thứ hai, vấn đề khởi kiện và yêu cầu cấp dưỡng cho con.

-Căn cứ vào điểm c, khoản 2 điều 5 thì một trong những hành vi bị cấm là: "Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ". Như vậy, người đàn ông đã có vợ mà vẫn có quan hệ như vợ chồng với người khác thì là vi phạm luật hôn nhân gia đình. Tùy theo mức độ và tính chất của hành vi người này có thể bị xử phạt hành chính hoặc hình sự theo điều 147, bộ luật hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng: "Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm."

-Nếu người đàn ông từ chối trách nhiệm làm cha thì bạn gái có quyền yêu cầu tòa án xác định cha cho con của mình theo quy định tại khoản 3, điều 102, luật hôn nhân và gia đình và điều 27, bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi xác định cha cho con bạn thì bạn có quyền yêu cầu cấp dưỡng cho con theo quy định tại điều 107,  luật hôn nhân gia đình 2014.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi cho thắc mắc của bạn, hi vọng sẽ giúp ích được cho bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng chúng tôi!

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.

---------------------------------------------------