Tài sản gồm: 1 miếng đất do cha mẹ chồng cho đã lâu mà có chồng chị đứng tên, 1 căn nhà mới mua khoảng 400 triệu ở Nhà Bè mà mẹ ruột có cho 100 triệu, và 1 chiếc xe kobe lúc mua mẹ ruột cũng có cho 25tr, ngoài ra còn nợ mẹ ruột 200 triệu nữa là tiền mua nhà.

Vậy cho hỏi sau khi ly hôn phải phân chia thế nào và có thưa được chồng chị về tội lấy vợ chưa đủ tuổi vị thành niên không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

Trả lời:

Chào bạn cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Công ty chúng tôi.  Vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Bộ luật Hình sự năm 1999

Nghị định 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000

Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP

Nội dung trả lời:

Vấn đề 1:  Vấn đề chị bạn kết hôn khi chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật thì pháp luật không công nhận quan hệ vợ chồng này vì trường hợp này vi phạm quy định về điều kiện kết hôn. Do chị bạn kết hôn từ năm 1996 nên lúc đó sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đính năm 1986, về điều kiện kết hôn được quy định như sau:

"Điều 5

Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn."

"Điều 8

Việc kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định.

Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở ngoài nước do cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận.

Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý."

Như vậy khi vi phạm quy định về điều kiện kết hôn này thì quan hệ vợ chồng không phát sinh và các quan hệ và nhân thân và tài sản cũng không phát sinh.  Do vậy quan hệ của hai bạn không được thừa nhận là quan hệ vợ chồng, nếu muốn chấm dứt quan hệ nói trên: “Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng” thì một trong hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết (được quy định điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2005). Tuy nhiên trong quá trình thụ lý vụ việc Tòa án cũng xem xét một số điều kiện cụ thể: Đối với những trường hợp kết hôn khi một bên hoặc cả hai bên chưa đến tuổi kết hôn là vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại điểm 1, điều 9, tùy từng trường hợp mà quyết định như sau:

+ Nếu đến thời điểm có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà một bên hoặc cả hai bên vẫn chưa đến tuổi kết hôn thì quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.

+ Nếu đến thời điểm có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên tuy đã đến tuổi kết hôn, nhưng cuộc sống của họ trong thời gian đã qua không có hạnh phúc, không có tình cảm vợ chồng, thì quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.

+ Nếu đến thời điểm có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên đã đến tuổi kết hôn, trong thời gian đã qua họ chung sống bình thường, đã có con, có tài sản chung thì không quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật. Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn thì Tòa án thụ lý vụ án để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung.

Trường hợp của bạn do đã chung sống với nhau tính đến năm 2015 là 19 năm, có tài sản chung và có con chung nên Tòa án sẽ không hủy việc kết hôn trái pháp luật này và nếu có yêu cầu giải quyết ly hôn thì Tòa án sẽ thụ lí vụ án để giải quyết theo thủ tục chung.

Do chị bạn và người chồng không thỏa thuận được về tài sản và các khoản nợ khi ly hôn nên Tòa án sẽ căn cứ vào từng điều kiện cụ thể của từng người để quyết định. Bạn có thể tham khảo thêm trong các quy định về phân chia tài sản khi y hôn tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP.

Vấn đề 2: Trong trường hợp trên, để xác định người chồng có vi phạm pháp luật hay không phải biết chính xác độ tuổi của người vợ và tuổi chính xác của người chồng.Theo quy định của pháp luật, nếu người vợ đủ 16 tuổi thì trường hợp nói trên chỉ vi phạm điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình (Điều 9), thực tế hành vi này còn gọi là tảo hôn theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào quy định tại Điều 23 Bộ luật hình sự:

Điều 23. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;

b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

c) Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;

d)  Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ.

Nếu trường hợp chồng chị bạn bị truy cứu trách nhiệm về tội tảo hôn theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Hình sự thì do tội này là tội phạm ít nghiêm trọng cho nên thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 5 năm. Như vậy thì hiện nay đã hết thời hiệu để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội này.

Nếu trường hợp chị bạn chưa đủ 16 tuổi và người chồng đã đủ tuổi chịu trách nhiệm về mọi tội phạm mình gây ra thì người chồng chị bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội  giao cấu với trẻ em theo quy định tại Điều 115 Bộ luật Hình sự. Tội này là tội phạm nghiêm trọng nên căn cứ theo Điểm b Khoản 2 Điều 23 như trên thì thời hạn truy cứu đối với tội này là 10 năm. Như vậy tính đến thời điểm hiện tại thì đã hết thời hiệu để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Công ty chúng tôi, hy vọng chúng tôi đã giải đáp được vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn tin tưởng sử dụng dịch vụ của Công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật Hôn nhân và gia đình.