Vậy cứ thế thời gian trôi qua, tôi cứ tưởng rồi sẽ hòa hợp nên cố gắng giữ hạnh phúc nhỏ đó. nhưng cho tới bây giờ vợ tôi cũng không thay đổi tính, hạnh phúc chúng tôi không có vì không hợp tính, cứ ở với nhau là lại cãi nhau. hiện tôi đề nghị ly dị để ai đi đường nấy nhưng vợ tôi không đồng ý, tôi không muốn cả đời này cứ sống ly thân như vậy. hiện tôi đang đi làm, tôi nuôi 2 con tôi ăn học, vợ tôi không nghề nghiệp gì ở quê. vậy tôi muốn đơn phương ly hôn. xin hỏi anh chị tôi có ly hôn được trong trường hợp này không, tôi ly hôn phải làm những gì? vì tôi và vợ tôi không đăng ký kết hôn mà kết hôn theo phong tục ở quê, được 02 bên chấp thuận. xin anh chị hay cho tôi xin ý kiến về vấn để của tôi, vì tôi không thể cứ sống như vây, làm tôi đâu khổ lắm, tôi muốn ly hôn cho đỡ khổ.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ Chuyên mục Tư vấn Luật Hôn nhân Gia đình của Công ty Luật Minh Khuê

Thủ tục ly hôn khi không có giấy chứng nhận đăng kí kết hôn

Luật sư tư vấn Luật Hôn nhân gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với vấn đề mà bạn thắc mắc chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý

Luật hôn nhân gia đình năm 2014

Nội dung tư vấn

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn thì sae không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định của luật này. Theo đó, bạn có quyền "ly hôn" với vợ mà không bị ràng buộc bởi bất kì quy định pháp luật nào, ngay cả khi vợ bạn không đồng ý. Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của bạn và vợ bạn đối với con được áp dụng theo luật này, cả 2 người đều có nghĩa vụ phải chăm sóc, nuôi dưỡng con cái: 

Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

Còn về quan hệ tài sản được chia theo nguyên tắc quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng ./.

Bộ phận Tư vấn Luật hôn nhân gia đình.