1. Thủ tục ly hôn khi không có giấy đăng ký kết hôn?

Vấn đề ly hôn khi không có đăng ký kết hôn được quy định đối với trường hợp hôn nhân thực tế và trường hợp sống chung từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến nay mà không có đăng ký kết hôn, quy định về thẩm quyền tòa án và các vấn đề khác liên quan như sau:

Luật sư: Lê Minh Trường - Tư vấn ly hôn và quyền nuôi con trên VTV3

1.1. Trường hợp hôn nhân thực tế

Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về hôn nhân thực tế. Tuy nhiên, theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao thì hôn nhân thực tế phải đáp ứng được cả hai điều kiện về hình thức và nội dung.

+ Về hình thức: Hai bên chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà không đăng ký kết hôn.

+ Về nội dung: Hai bên nam, nữ phải tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình năm 1960 (trừ những trường hợp cán bộ miền nam tập kết ra Bắc trước giải phóng lấy tiếp vợ 2 đã có thông tư số 60 ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn là: người chồng và hai người vợ có thể thoả thuận chung sống ổn thỏa, tức là toà án không phải huỷ hôn nhân lần thứ hai. Sẽ tiến hành huỷ hôn nhân trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai người vợ (giải quyết theo yêu cầu của vợ).

Như vậy, hôn nhân thực tế dù không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được pháp luật công nhận. Chính vì thế mà việc ly hôn của những hôn nhân thực tế sẽ được giải quyết như vụ việc ly hôn có đăng ký kết hôn bình thường.

1.2. Trường hợp sống chung từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến nay mà không có đăng ký kết hôn

Nam và nữ chung sống với nhau từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn 02 năm kề từ ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003, trong thời hạn này mà không có đăng ký kết hôn, nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa sẽ thụ lý giải quyết theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nhưng sẽ ra quyết định không công nhận là vợ chồng.

Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi nam và nữ sống chung với nhau mà không đăng ký kết hôn đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng Khoản 2 và khoản 3 điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết (nghĩa là yêu cầu về con và tài sản sẽ được Tòa án giải quyết như đối với trường hợp ly hôn thông thường.

Đương nhiên, quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 hiện hành đang áp dụng thì việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý.

* Hồ sơ ly hôn bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn;

+ Giấy xác nhận của địa phương về quá trình chung sống của 2 người;

+ Chứng minh nhân dân của vợ, chồng;

+ Giấy khai sinh của con chung (bản sao có công chứng);

+ Giấy tờ chứng nhận về quyền sở hữu tài sản (trong trường hợp vợ chồng có yêu cầu tòa án chia tài sản chung của vợ chồng).

* Thẩm quyền giải quyết ly hôn:

Hai bên có quyền thỏa thuận, lựa chọn nộp đơn kiện tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết: TAND quận (huyện) nơi cả 2 bên hoặc một trong các bên có hộ khẩu thường trú, tạm trú; nếu 2 bên có hộ khẩu thường trú ở 2 nơi khác nhau thì đơn kiện sẽ nộp tại TAND quận (huyện) nơi bị đơn có hộ khẩu thường trú, tạm trú giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Dịch vụ tư vấn pháp luật lĩnh vực Hôn nhân gia đình;

2. Hướng dẫn thủ tục ly hôn không có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn?

Em đã mất giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính nhưng vẫn còn bản sao được làm cùng ngày với bản chính. Vậy có ly hôn được không? Hộ khẩu thường trú của vợ chồng em ở tại Khương Trung- Thanh Xuân- Hà Nội, em hiện đang tạm trú KT3 tại nhà bố mẹ ở: Đông Anh - Hà Nội, em có thể nộp đơn và xin ly hôn ở toà án huyện Đông Anh hay không? Xin luật sư tư vấn giúp em! Em xin cảm ơn!

Hướng dẫn thủ tục ly hôn không có giấy đăng ký kết hôn ?

Trả lời:

Thứ nhất, về Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn:

Nếu bạn bị mất bản chính giấy đăng ký kết hôn bản chính bạn có thể ghi rõ lý do trong đơn ly hôn và nộp bản sao được cấp trích lục từ sổ gốc để bổ sung. Bạn có thể đến trực tiếp Ủy ban nhân dân cấp xã/phường/thị trấn trước đây bạn cư trú để yêu cầu cán bộ cấp trích lục cho bạn.

Thứ hai, về thẩm quyền giải quyết ly hôn:

- Nếu bạn tiến hành ly hôn đơn phương thì bạn cần nộp hồ sơ tại tòa án nhân dân quận huyện nơi chồng bạn đang cư trú. Nơi cư trú của chồng có thể là nơi có hộ khẩu tại quận Thanh Xuân hoặc nếu bạn biết rõ anh ấy đang tạm trú tại địa phương khác bạn cần nộp hồ sơ tại đó theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Nếu bạn ly hôn thuận tình thì bạn có thể nộp hồ sơ tại tòa án nhân dân huyện Đông Anh nơi bạn đang tạm trú hoặc nơi chồng bạn đang cư trú theo hướng dẫn trên hoặc nơi bạn có hộ khẩu thường trú tại Thanh Xuân, Hà Nội theo quy định tại khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

>> Bài viết tham khảo thêm: Ly hôn khi không xác minh được nơi bị đơn cư trú?

3. Ly hôn nhưng không có giấy đăng ký kết hôn?

Xin chào Công ty Luật Minh khuê, bố tôi đã có vợ và 4 người con, mẹ tôi có một người con trai riêng. Năm 1982, bố mẹ sinh ra tôi, năm 1988 bố mẹ sinh ra em trai tôi. Trong khoảng thời gian từ năm 1982-1992 bố tôi vẫn ở cùng mẹ cả và 4 người con nhưng vẫn thường xuyên lên thăm mẹ con tôi, bà cả và 4 người con của bố tôi biết về mối quan hệ giữa bố và mẹ tôi, họ rất phản đối và thù ghét mẹ con tôi. Năm 1992, bà cả bị bệnh nằm liệt giường, bố tôi bỏ nhà đi và đón mẹ con tôi ra Cẩm Phả làm ăn cho đến nay, hai năm đầu ra Cẩm Phả bố tôi vẫn giữ liên lạc với bà cả và gửi tiền về chữa bệnh cho bà cả đến khi bà cả qua đời. Sau bao năm vất vả bố mẹ tôi cũng mua được một lô đất xây được một ngôi nhà 2 tầng và bây giờ đang cho thuê, và bố mẹ tôi dành dụm được một ít tiền để nuôi dưỡng tuổi già.
Tuy nhiên, sổ đỏ bố tôi đứng tên, tiền dành dụm được bố tôi cũng là người cầm, bây giờ bố tôi suốt ngày chửi mẹ tôi và đuổi mẹ tôi ra khỏi nhà nên tôi muốn hỏi luật sư trường hợp mẹ tôi không có đăng ký kết hôn nhưng có tên trong sổ hộ khẩu là vợ và có tên của cả chúng tôi thì khi ra tòa giải quyết mẹ tôi và chúng tôi có quyền được chia tài sản không? Bốn người con của bố tôi có quyền được chia tài sản trong trường hợp này không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn hôn nhân gia đình, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp, bố của bạn đã đăng ký kết hôn với người vợ trước và họ có 4 người con, bố của bạn chưa ly hôn người vợ trước mà đã chung sống với mẹ của bạn và sinh ra bạn năm 1982 và em trai của bạn năm 1988. Đến năm 1992 người vợ trước của bố bạn mất, và bố mẹ bạn vẫn chung sống với nhau nhưng hai người cũng không đi đăng ký kết hôn.

Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng được coi là hôn nhân thực tế khi: hai bên chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3/1/1987 và phải tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn. Do vậy, bố mẹ bạn chung sống với nhau từ năm 1982 đến năm 1992 trong khoảng thời gian này bố của bạn đã có đăng ký kết hôn với người vợ trước, do vậy, trường hợp của bố mẹ bạn không được coi là hôn nhân thực tế, hơn nữa từ sau năm 1992 bà vợ cả của bố bạn mất cho đến nay bố mẹ bạn cũng không đi đăng ký kết hôn để xác nhận tình trạng hôn nhân của hai người, cho nên trường hợp của bố mẹ bạn không phải là vợ chồng của nhau. Và tên của mẹ bạn trong sổ hộ khẩu là vợ và tên của anh em bạn không là căn cứ để xác nhận quan hệ của bố mẹ bạn là quan hệ vợ chồng hợp pháp.

Tuy nhiên, trong quá trình chung sống với nhau bố mẹ bạn mua được lô đất xây nhà 2 tầng, đồng thời tiết kiệm được một khoản tiền, nhưng sổ đỏ bố bạn đứng tên và tiền bố bạn cầm, trong khi đó quan hệ của bố mẹ bạn không phải là quan hệ vợ chồng hợp pháp, do vậy căn cứ theo quy định Điều 14 và Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định về giải quyết hậu của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn như sau:

"Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn."

"Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chông sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập."

Sổ đỏ bố bạn đứng tên, tiền tiết kiệm bố bạn giữ nhưng tài sản đó là tài sản mà cả bố và mẹ của bạn cùng tạo dựng lên trong quá trình chung sống cùng nhau do vậy khi ra tòa giải quyết thì mẹ của bạn được chia tài sản. Việc chia tài sản giữa bố và mẹ của bạn được giả quyết theo sự thỏa thuận giữa bố mẹ bạn, trong trường hợp không thỏa thuận được thì việc chia tài sản được thực hiện theo quy định tại Điều 209 Bộ luật dân sự năm 2015 về sở hữu chung theo phần và Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015 về chia tài sản thuộc hình thức sở hữu chung.

Theo đó, Sổ đỏ à tiền tiết kiệm của bố mẹ bạn được xem là tài sản sở hữu chung theo phần, mỗi người đều có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Chia tài sản thuộc sở hữu chung như sau:

- Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác.

- Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Do tài sản này là tài sản của bố mẹ bạn nên anh em của bạn cũng như bốn người con của bố của bạn không được chia tài sản trương trường hợp này. Anh em bạn chỉ được chia tài sản trong trường hợp được thừa kế khi bố mẹ của bạn mất.

4. Ly hôn không có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn thì tòa án có giải quyết không?

Thưa luật sư. Luật sư cho tôi hỏi: trong khi hai bên ba mẹ ly hôn mà làm mất giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vậy có được ly hôn không? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Ly hôn không có giấy đăng ký kết hôn thì tòa án có giải quyết không ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

5. Ly hôn khi không có giấy đăng ký kết hôn và một số giấy tờ khác?

Thưa luật sư, vợ chồng em ly thân đã lâu rồi, nay em muốn ly hôn để cả hai được tự do. Nhưng mỗi lần em nói thì anh ấy đã làm mất giấy đăng ký kết hôn rồi, giờ em muốn ly hôn thì làm thế nào có ly hôn được không? Xin luật sư cho em câu trả lời với ạ. Em xin chân thành cảm ơn luật sư đã tư vấn!

Trả lời:

Trong trường hợp không có Giấy chứng nhận kết hôn thì một trong hai bên đến Ủy ban nhân dân xã nơi trước đó hai người đăng ký kết hôn để xin cấp lại bản sao từ sổ gốc. UBND xã có trách nhiệm cấp bản sao Giấy chứng nhận kết hôn và chứng thực bản sao từ bản chính.

Nghị định 23/2015/NĐ-CP quy định về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chứng thực giao dịch, hợp đồng quy định:

"Điều 4. Thẩm quyền và trách nhiệm cấp bản sao từ sổ gốc

1. Cơ quan, tổ chức đang quản lý sổ gốc có thẩm quyền và trách nhiệm cấp bản sao từ sổ gốc theo quy định tại Nghị định này, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Việc cấp bản sao từ sổ gốc được thực hiện đồng thời với việc cấp bản chính hoặc sau thời điểm cấp bản chính."

Trong vấn đề ly hôn, một trong những giấy tờ cần nộp là Giấy chứng nhận kết hôn. Nếu không có giấy chứng nhận kết hôn thì Tòa án sẽ không nhận đơn. Do đó, khi mất Giấy chứng nhận kết hôn thì một trong hai bên phải xin cấp trích lục bản sao để nộp cho Tòa án. Nếu trong sổ gốc của địa phương không còn lưu trữ thông tin, đồng thời, việc đăng ký kết hôn của bố mẹ bạn trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 thì bố mẹ bạn có thể đăng ký kết hôn lại theo quy định tại Điều 24 và Điều 27 Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch.

Những điều cần lưu ý: Nếu khi nộp đơn ly hôn mà đương sự không nộp Giấy chứng nhận kết hôn, Tòa án sẽ không nhận đơn.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Hỏi đáp pháp luật về thủ tục ly hôn? Cần những giấy tờ gì để ly hôn?

6. Ly hôn trong trường hợp kết hôn từ năm 1992 nhưng không có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn?

Kính thưa Luật sư! Luật sư cho hỏi: Muốn ly hôn thì làm thế nào? Việc phân chia tài sản và con cái thực hiện cụ thể ra sao? Hai vợ chồng có một căn nhà là tài sản chung, có hai con, một con trai 22 tuổi, một con gái 11 tuổi. Kính mong luật sư cho ý kiến. Xin trân trọng cảm ơn!

Trả lời:

Tại mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 Hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình của Quốc hội của Quốc hội quy định rõ:

"Việc áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này được thực hiện như sau:

a)Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 1 năm 1987,ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì đượcTòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 1 năm 1987 đến ngày 01 tháng 1 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng;

c) Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết."

Theo đó thì tuy hai vợ chồng em gái bạn đã sống chung với nhau từ 1992 nhưng trên pháp luật họ vẫn chưa được công nhận là vợ chồng.

Về việc ly hôn, nghĩa vụ đối với con cái và phân chia đối với trường hợp ly hôn của vợ chồng sống chung nhưng không có giấy đăng ký kết hôn được Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định tại Điều 14, Điều 15 và Điều 16. Theo đó, về phân chia căn nhà chung là do thỏa thuận của hai vợ chồng em bạn, nếu không thỏa thuận được thì sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật đã được phân tích ở bài viết trên, bạn có thể tham khảo.

Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì vợ chồng bạn có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con và xem xét nguyện vọng của hai con. Cụ thể quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

>> Tham khảo ngay: Mẫu đơn đề nghị rút đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con và chia tài sản khi ly hôn

Thưa luật sư, con tôi sinh năm 2009. Tôi đã làm giấy khai sinh cho con nhưng tên không được đẹp, nay tôi muốn đổi lại tên cho con. Vậy tôi có được quyền đổi lại tên cho con hay không, khi đơn đề nghị đổi tên tôi nêu lý do vì tên xấu, nay tôi muốn đổi lại? Tôi có mang hồ sơ đến xã, nơi đăng ký khai sinh, nhưng cán bộ hộ tịch từ chối vì lý do không chính đáng. Điều đó có đúng không? Tôi xin văn phòng luật sư tư vấn giúp. Tôi xin cảm ơn!

>> Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền thay đổi tên, theo đó, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi tên trong trường hợp sau đây:

- Theo yêu cầu của người có tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;

- Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt;

- Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;

- Thay đổi tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;

- Thay đổi tên của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại tên trước khi thay đổi;

- Thay đổi tên của người đã xác định lại giới tính, người đã chuyển đổi giới tính;

- Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.

Việc thay đổi tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó. Việc thay đổi tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo tên cũ.

Khi làm thủ tục thay đổi tên cho con bạn cần phải thuộc một trong các trường hợp được nêu trên, nếu bạn không có bằng chứng để chứng minh lý do để thay đổi tên cho con của bạn thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền từ chối đơn yêu cầu của bạn.

Thưa luật sư, em có một người bạn hiện tại đã ly thân với chồng được 02 năm. Do bên chồng không chịu giải quyết việc ly hôn dây dưa mãi. Cho em hỏi: Bạn ấy giờ muốn ly hôn đơn phương được không? Có điều khó giải quyết em có tìm hiểu thủ tục đơn phương xin ly hôn là cần có chứng minh nhân dân và hộ khẩu. Giờ chứng minh nhân dân bạn ấy đã mất cùng với bằng lái mà hộ khẩu bên chồng giữ không cho tách khẩu cũng không cho ly hôn. Mà chồng bạn ấy lại bị nghiện ngập. Giờ bạn ấy không có chứng minh nhân dân cũng không tách khẩu và lấy hộ khẩu được ạ?

>> Thủ tục ly hôn đơn phương khi chồng giữ tất cả giấy tờ?

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn Luật Hôn nhân và gia đình - Công ty Luật Minh Khuê