Đến nay, cuộc sống gia đình tôi không hòa thuận và đã xin ly hôn. Vợ tôi có ý định đòi chia mảnh đất trên với lý do vợ chồng tôi là người đứng tên hợp pháp nên đó là tài sản chung trong khi thực tế là đứng tên giùm ba mẹ tôi.

Vậy kính mong luật sư tư vấn để chứng minh mảnh đất đó là tài sản của ba mẹ tôi và vợ chồng tôi chỉ là người đứng tên dùm có được không và phải cần những trình tự, thủ tục gì?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: T.P

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hôn nhân gia đình của Công ty Luật Minh Khuê.

Tranh chấp quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn ? 

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục tư vấn của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005.

2. Nội dung phân tích:

Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Đối tượng của ủy quyền là công việc phải làm. Việc đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở không phải là công việc mà là sự ghi nhận và bảo đảm của Nhà nước cho người sử dụng/sở hữu; là cơ sở pháp lý để chủ sử dụng/sở hữu thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Pháp luật có quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hướng dẫn phải thể hiện rõ thông tin về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất tại trang 1 của Giấy chứng nhận. Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất là cá nhân, hộ gia đình… được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Hay nói ngắn gọn, người đứng tên trong GCNQSHĐ là chủ sở hữu được pháp luật công nhận, không chuyển giao cho người khác được.

Theo thông tin bạn cung cấp, bố mẹ bạn đứng ra giao dịch mua đất nhưng GCNQSHĐ lại do vợ chồng bạn đứng tên. Như vậy, chúng tôi hiểu rằng, đây là hợp đồng tặng cho của bố mẹ bạn cho vợ chồng bạn. Trong trường hợp việc nhờ vợ chồng bạn đứng tên mà chỉ thỏa thuận miệng với nhau thì việc đòi lại được tài sản sẽ không thể xảy ra.

Nếu việc tặng cho này của bố mẹ bạn có hợp đồng tặng cho tài sản, thì căn cứ quy định của BLDS:

Trường hợp 1: Tặng cho không có điều kiện.

Ðiều 722. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”.

“Ðiều 689. Hình thức chuyển quyền sử dụng đất

2. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật”.

Theo đó, trong trường hợp này quyền sử dụng đất đã mang tên vợ chồng bạn. Hợp đồng đã có hiệu lực, quyền sử dụng tài sản đã chuyển giao từ bố mẹ bạn sang vợ chồng bạn. Do vậy, bố mẹ bạn sẽ không đòi lại được đất nữa.

Trường hợp 2: Việc tặng cho có điều kiện.

Ðiều 470. Tặng cho tài sản có điều kiện

1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho. Ðiều kiện tặng cho không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.

2.Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.

3.Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

Theo đó, trong trường hợp tặng cho có điều kiện này mà vợ chồng của bạn có vi phạm nghĩa vụ đặt ra thì bố mẹ bạn có thể đòi lại mảnh đất này.

Tuy nhiên, bạn có trình bày là thửa đất là là do bố mẹ nhờ vợ chồng bạn đứng tên dùm và đăng ký quyền sở hữu. Căn cứ duy nhất để bố mẹ bạn  khởi kiện đòi lại thửa đất trên là “bố mẹ bạn đứng ra giao dịch mua đất và nhờ vợ chồng bạn  đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Nếu thỏa thuận trên được lập dựa vào chứng cứ trên, Tòa án sẽ xem xét để ra quyết định có hay không đồng ý yêu cầu của vợ bạn về mảnh đất này.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê