Nhà ra ở hơn 2 tháng nhưng ông bà không làm sổ đỏ cho vợ chồng tôi, vẫn chưa tách hộ khẩu riêng. Bố mẹ chồng tôi sợ tôi đòi ly hôn sẽ phải chia tài sản cho tôi nên quyết không bàn giao ngôi nhà và tách sổ đỏ.

Vậy trong trường hợp này tôi phải làm thế nào, tôi có lấy lại được những khoản tôi đã đóng góp trong quá trình làm nhà hay không ? Còn một khoản nợ tôi đứng tên vay mượn khi làm nhà, vậy số nợ đó sẽ giải quyết thế nào khi ly hôn ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: H.Đ

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng công ty luật Minh Khuê! câu hỏi của bạn chúng tôi xin phép được giải đáp như sau:

Cơ sở pháp lý:

 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13  

Nội dung trả lời:

Theo quy định tại Điều 59 LHN&GĐ năm 2014 quy định:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Theo nguyên tắc khi  ly hôn việc phân chia tài sản sẽ thực hiện theo sự  thỏa thuận của hai vợ chồng bạn. Nếu không thể thỏa thuận được thì tiến hành phân chia tài sản theo Điều  61 của luật này. Mặc dù vợ chồng bạn ở riêng nhưng sổ hộ khẩu vẫn chung với gia đình nhà chồng nên coi như vợ chồng bạn vẫn sống chung với gia đình khi tính đến việc phân chia tài sản.

Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Theo như những dữ kiện bạn đưa ra ngôi nhà khoảng 600 triệu đồng trong đó bố mẹ chồng có 1 nửa tức là 300 triệu đồng còn vợ chồng bạn có 300 triệu đồng khi góp vốn vào xây căn nhà đó. Do trường hợp này có thể xác định được số tài sản của vợ chồng bạn có trong khối tài sản chung nên áp dụng khoản 2, Điều 61 là hoàn toàn hợp lý. Sau khi xác định được khối tài sản của 2 vợ chồng trong khối tài sản chung thì tiến hành chia theo khoản 4, Điều 59 do bạn có nói rằng tiền riêng của bạn nhiều hơn của chồng “4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác” Trong trường hợp bạn đã đóng góp nhiều hơn chồng bạn thì có thể yêu cầu chồng bạn thanh toán cho bạn phần mà bạn đã bỏ ra theo quy định tại khoản 4, Điều 159

  • Đối với trường hợp bạn đứng tên vay mượn tiền làm nhà được giải quyết như sau:

Điều 24. Căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng

2. Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.

Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Do bạn không trình bày rõ là chồng bạn có ủy quyền cho bạn khi thực hiện giao dịch vay tiền hay không nên chúng tôi đưa ra 2 giả thiết. Trường hợp chồng bạn không ủy quyền cho bạn mà bạn tự ý vay tiền theo ý kiến của riêng mình thì giao dịch này thì bạn hoàn toàn phải chịu trách nhiệm. Còn đối với trường hợp vợ chồng bạn cùng thỏa thuận thực hiện giao dịch này nhưng đứng tên bạn thì khi ly hôn chồng bạn vẫn phải lien đới chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với khoản nợ đó

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.