Trong đó tôi đã đứng ra vay của ngân hàng sau đó là người thân, vay lãi xuất thấp của người quen rất nhiều để trả nợ cho anh ấy nhưng vì tin cậy tôi nên một số người không bắt chồng tôi phải kí giấy tờ. Còn với anh em trong gia đình chúng tôi chỉ nói miệng. Nhưng do số nợ khá lớn, sau đó chồng tôi cũng không có ý thức giúp tôi trả nợ và đồng lương của tôi không đủ trang trải cả sinh hoạt lẫn nợ nần, lương của chồng tôi thời điểm cao nhất khoảng 2 đến 2,5 triệu trả qua thẻ ngân hàng mà vẫn phải trừ tiền vay tín chấp của ngân hàng trong thời gian dài nên cứ như vậy số nợ ngày càng nhân lên, tôi phải vay chỗ nọ trả chỗ kia và số tiền ngày càng nhiều. Có thời điểm tôi phải vay mượn đi bán hàng đêm nhưng thu nhập thấp lại phải một mình lo tất cả nên âm vào tiền vốn và tiếp tục mắc nợ chồng chất. Mâu thuẫn ngày càng lớn mà ý thức gia đình cũng như máu cờ bạc của anh ấy không thay đổi, chồng tôi nhiều lần lạm dụng tiền cơ quan. Cũng sau nhiều lần vay mượn trả để anh ta không bị đuổi việc thì năm 2012 anh ta cũng mất việc. Trong thời gian này anh ta có quan hệ bất chính nên càng mâu thuẫn nặng kết quả anh ta chuyển về quê ở chúng tôi gần như ly thân và anh hoàn toàn không còn có trách nhiệm với gia đình nữa. Con lớn của tôi vì bất mãn không tập chung học hành và quậy phá nên giữa năm 2013 tôi chuyển cháu về quê học ở với bố nhưng nhiều khi vẫn phải hỗ trợ tiền cho 2 bố con. Đến nay, chúng tôi quyết định ly hôn. Tôi hoàn toàn mong muốn có thể thỏa thuận tránh phải căng thẳng mệt mỏi, tốn kếm lại ảnh hưởng tâm lí con cái nhưng bằng hiểu biết của tôi về anh ấy thì dù có dễ dàng nhận và hứa trả anh ta cũng không bao giờ chịu thực hiện. Vì tài sản chung không có, đất 2 bên nội ngoại cho cũng đã bán để trả nợ. Tiền vay nợ còn rất nhiều nhưng hầu hết do tôi kí vay, bố chồng tôi mới mất di chúc cho chồng tôi mảnh đất ông bà đã ở nhưng bìa đỏ chưa tách khỏi đất chung với anh chị chồng và vẫn mang tên bố chồng tôi (chị tôi đang giữ vì anh ta cũng vay tiền của chị)

Vậy xin hỏi luật sư chồng tôi có trách nhiệm trả nợ cùng tôi không và tôi phải làm như thế nào? Tôi có quyền cùng hưởng tài sản do bố chồng tôi cho chồng tôi không? Tôi có tìm hiểu thì biết tôi phải chứng minh được tiền nợ ấy là chi phí cho nhu cầu thiết yếu của gia đình nhưng do quá trình vay nợ kéo dài lại thay đổi nhiều chủ nợ nên việc ấy rất khó. Nếu bất đắc dĩ phải nhờ sự phân định của tòa án tôi có phải chịu tiền án phí cho số tiền ấy không?

Hiện nay kinh tế của tôi vô cùng khó khăn tôi không có khả năng chi trả số tiền lên đến vài triệu nên xin Luật sư làm ơn tư vấn giúp tôi để tôi có thể giải quyết mọi việc nhanh gọn hiệu quả và ít tốn kếm nhất.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: L.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hôn nhân gia đình của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn giải quyết nợ nần sau ly hôn ? 

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Trả lời

Nội dung trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời lời như sau:

Cơ sở pháp lý: 

Luật hôn nhân và gia đình 2014

Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 về Án phí, lệ phí tòa án

Nội dung tư vấn:

Theo quy định tại Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, vợ chồng có nghĩa vụ chung về tài sản trong những trường hợp sau đây:

"Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan."

Do đó, với trường hợp của bạn, bạn không có nghĩa vụ phải trả nợ đối với các khoản nợ do chồng bạn do thua lỗ trong làm ăn và những chi tiêu không hợp lý cũng như nợ nần do cờ bạc vì đây không thuộc trường hợp là nghĩa vụ chung của vợ chồng. Tuy nhiên, hiện tại, các hợp đồng vay tài sản do bạn đứng tên để thực hiện nghõa vụ trả nợ với các khoản vay của chồng. Trong trường hợp này, để yêu cầu chồng bạn trả nợ, bạn có thể lựa chọn các cách xử lý như sau:

Thứ nhất, nếu như bạn chứng minh được rằng các khoản vay của mình là để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì trong trường hợp này, chồng bạn sẽ có nghĩa vụ trả nợ cùng với bạn vì đây thuộc một trong các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng.

Thứ hai, với một số khoản vay để trả nợ cho nghĩa vụ của chồng bạn mà nghĩa vụ đó không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yêu của gia đình hoặc không phải do vợ chồng bạn cùng thỏa thuận xác lập thì trong trường hợp này, bạn có thể yêu cầu chồng bạn phải trả cho bạn các khoản tiền này vì bạn đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho chồng. Do đó, bạn có thể yêu cầu chồng bạn phải hoàn trả lại khoản tiền mà bạn đã trả nợ thay.

Về vấn đề bạn có được hưởng di sản thừa kế của bố chồng bạn hay không thì theo quy định của luật hôn nhân và gia đình 2014, tài sản riêng của vợ, chồng được quy định bao gồm các tài sản sau:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sảnphục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Do đó, nếu mảnh đất do bố chồng bạn để lại chỉ cho riêng chồng bạn thì đây sẽ được xem là tài sản thừa kế riêng của chồng bạn. Bạn sẽ không có quyền hưởng di sản thừa kế của bố chồng bạn trong trường hợp này vì bố chồng bạn đã để lại di chúc định đọat đối với di sản thừa kế của mình.

Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự mà bạn thắc mắc: theo quy định của Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 về Án phí, lệ phí tòa án như sau:

"Điều 27. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm

1. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận.

2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

3. Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận.

4. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận.

5. Bị đơn có yêu cầu phản tố phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố không được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận.

6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận. Người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập được Tòa án chấp nhận.

7. Mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản, phần di sản mà họ được hưởng, được chia trong trường hợp các bên đương sự không tự xác định được phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản mà mình được hưởng trong khối di sản thừa kế và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế đó.

8. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

9. Các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài việc chịu án phí dân sự sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 của Pháp lệnh này, còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia.

10. Người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ theo quyết định của Tòa án phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch.

11. Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì phải chịu 50% mức án phí quy định.

12. Trường hợp các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm thì các đương sự vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp xét xử vụ án đó.

13. Trong vụ án có người không phải nộp hoặc được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm thì những người khác vẫn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều này."

 

Do đó, với trường hợp của bạn, về việc bạn có phải chịu án phí tòa án hay không còn phụ thuộc vào việc yêu cầu của bạn có được tòa án chấp nhận hay không. Nếu yêu cầu của bạn được tòa án chấp nhận thì bạn sẽ không phải chịu án phí mà sẽ do chồng bạn chịu và ngược lại.
Tuy nhiê, nếu bạn phải chịu án phí do yêu cầu không được chấp nhận thì bạn có thể chứng minh mình thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 về Án phí, lệ phí tòa án như sau:

"Điều 11. Miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí

Những trường hợp sau đây được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí:

1. Người khởi kiện vụ án hành chính là thương binh; bố, mẹ liệt sỹ; người có công với cách mạng.

2. Người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật;

3. Người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự;

4. Người khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh;

5. Cá nhân, hộ gia đình thuộc diện nghèo theo quy định của Chính phủ;

6. Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm."

Vì thế nếu bạn thuộc diện hộ nghèo theo quy định của chính phủ thì bạn sẽ không phải chịu án phí kể cả trong trường hợp bạn không được tòa án chấp nhận yêu câù của mình.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn 1900.6162.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ