1. Tư vấn hỏi mẫu đơn, thủ tục ly hôn và giành quyền nuôi con cho người vợ ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi có gia đình đã được 5 năm. Có được 1 bé gái 2 tuổi. Hiện tại tôi đang công tác tại Ngân hàng. Chồng tôi không có đi làm. Hoàn cảnh gia đình bên chồng tôi khó khăn tiền bạc. Chồng tôi thường kiếm chuyện với tôi và bắt tôi mượn tiền cho nó. Nhưng tôi không đồng ý. Nó kiếm chuyện chửi tôi và còn đánh tôi.

Hôm nay, tôi quyết đinh gửi mail đến nhờ Luật Sư tư vấn là nếu tôi ly hôn với chồng tôi thì tôi có được quyền nuôi dạy con tôi không ? (chồng tôi nó đòi bắt con). Kính mong quý luật sư gửi cho tôi mẫu đơn xin ly hôn và thủ tục hướng dẫn ly hôn ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: H.P.T.H

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Đối với thắc mắc của bạn, tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Bạn có thể tham khảo các mẫu đơn xin ly hôn: Mẫu đơn xin ly hôn.

Và tham khảo thủ tục ly hôn: Dịch vụ luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại.

Còn đối với việc bạn có quyền nuôi con hay không, tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Về nguyên tắc con dưới 3 tuổi sẽ do mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện nuôi dưỡng. Như vậy, theo những gì bạn trình bày, bạn hoàn toàn có đủ điều kiện cả về vật chất và tinh thần để nuôi dưỡng, chăm sóc con vì vậy, bạn được quyền ưu tiên nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại khoản 3 Điều 81 nêu trên.

>> Xem ngay: Con được 27 tháng tuổi khi ly hôn thì quyền nuôi con sẽ do cha hay mẹ nuôi ?

2. Tư vấn ly hôn, chia tài sản là gói bảo hiểm và quyền nuôi con ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Hiện vợ chồng chúng tôi có con chung dưới 36 tháng tuổi. Tôi được người nhà mua bảo hiểm cho, nhưng hiện giờ vợ chồng tôi sắp ly hôn, chưa làm thủ tục ly hôn.

Tôi muốn hỏi:

1. Vậy Gói bảo hiểm người nhà mua cho tôi được coi là tài sản chung hay tài sản riêng của tôi? Trường hợp muốn chứng minh là tài sản riêng thì tôi và người nhà tôi cần làm gì để khi ra tòa ly hôn tài sản đó thuộc về tôi?

2. Gói bảo hiểm đó có phải buộc chia lại cho con chung của vợ chông tôi hay không (khi tôi kết thúc hợp đồng hoặc năm XX nào đó tôi có quyền nhận được một khoản tiền? Trường hợp này tôi không để lại di chúc cho con chung và vợ cũ của tôi.

3. Thu nhập từ gói bảo hiểm này (nếu có) có phải là phần bắt buộc tôi phải trích ra nuôi con chung hay không (con chung vì dưới 36 tháng tuổi nên cháu sẽ theo ở với mẹ)? Trường hợp tôi không có việc làm, việc làm thất thường thì có buộc phải trích khoản thu nhập từ gói bảo hiểm này ra để đóng góp phần nuôi con chung hay không?

4. Gói bảo hiểm này có được coi là tài sản để cầm cố, hay thế chấp tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng không? Có 02 trường hợp: - Gói bảo hiểm đã đóng phí trọn gói - Gói bảo hiểm đóng phí định kỳ hàng năm.

5. Trường hợp người nhà của tôi mua nhà riêng cho tôi, làm cách nào để chứng minh tòa án khi ly hôn nhà đó là tài sản riêng của tôi? Nếu sau khi ly hôn, tôi có buộc trích phần tiền thu được từ căn nhà đó (cho thuê) để đóng góp nuôi con chung hay không? Nếu trường hợp không có việc làm, hoặc việc làm thất thường có buộc phải trích khoản tiền thu được từ căn nhà trên đóng tiền nuôi con chung hay không?

6. Trường hợp tôi không có việc làm thường xuyên, hoặc công việc thất thường, do vậy tôi không chu cấp đều đặn cho con chung hàng tháng được, vậy khi tôi có việc làm trở lại, tôi có phải đóng "bù" cho các tháng không có tiền do thất nghiệp không? Trường hợp này vợ và nhà vợ tôi ngăn cản vì lý do chu cấp không đầy đủ là đúng hay sai, khi tôi đến thăm hoặc gọi điện thăm hỏi con chung?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: H.N

Tư vấn ly hôn, chia tài sản là gói bảo hiểm và quyền nuôi con ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.1940

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của anh. Cảm ơn anh đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của anh chúng tôi giải đáp như sau:

Thứ nhất: Liên quan đến xác định tài sản riêng của vợ, chồng

Căn cứ vào điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về tài sản riêng của vợ chồng:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này".

Căn cứ vào quy định trên có thể xác định tài sản riêng của vợ chồng là tài sản có trước khi kết hôn và khi kết hôn chưa thỏa thuận xác nhận tài sản riêng thành tài sản chung.

Tài sản mà vợ, chồng được tặng cho riêng, thừa kế riêng, trong thời kỳ hôn nhân nhưng không thỏa thuận xác nhập vào khối tài sản chung.

Từ các phân tích trên có thể thấy:

- Gói bảo hiểm này anh được người nhà mua cho, do đó, gói bảo hiểm này có thể được coi là tài sản riêng của anh. Nếu anh được tặng cho riêng và trong hợp đồng bảo hiểm, người hưởng thụ chỉ mang tên mình anh mà không ghi tên cả hai vợ chồng. Để chứng minh đây là tài sản riêng của anh thì anh cần cung cấp cho Tòa án các văn bản chứng minh việc người nhà mua hợp đồng bảo hiểm riêng cho anh, ngoài ra anh cần cung cấp bản hợp đồng bảo hiểm mang tên anh. Trường hợp trong Hợp đồng bảo hiểm ghi tên người thụ hưởng là anh thì số tiền bảo hiểm sau này anh có quyền lập di chúc đề định đoạt số tài sản này. Trường hợp anh không để lại di chúc thì số tài sản này sẽ được chia theo pháp luật. Khi đó những người ở hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản bao gồm "vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết" (theo điểm a, khoản 1 Điều 676 BLDS).

Theo thông tin bạn cung cấp thì Hợp đồng bảo hiểm này không phải là đối tượng của cầm cố, thế chấp tại ngân hàng vì bản thân nó không phải là tài sản.

Đối với ngôi nhà mà gia đình anh mua riêng cho anh, nếu muốn chứng minh được đây là tài sản được tặng cho riêng thì anh phải chứng minh được là có hợp đồng tặng cho và trên hợp đồng thể hiện tặng cho riêng mình anh, hợp đồng đã công chứng hoặc trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất mang tên của mình anh mà không phải mang tên của hai vợ chồng.

Thứ hai: Việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Căn cứ vào Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng:

"Điều 107. Nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này".

Căn cứ vào quy định này thì có thể thấy cha, mẹ sau khi ly hôn nếu không trực tiếp nuôi dưỡng con thì vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.

Khi đã ly hôn thì vợ chồng vẫn có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục con cái. Tuy nhiên, nếu anh không là người trực tiếp nuôi con thì anh vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo thỏa thuận hoặc theo yêu cầu của vợ căn cứ vào mức thu nhập của anh. Còn số tiền bảo hiểm trong hợp đồng anh chưa được hưởng thì anh không có nghĩa vụ phải trích ra để nuôi con vì trên thực tế tài sản này chưa hình thành.

Nếu như anh do hoàn cảnh khó khăn hay chưa có việc làm có thể thỏa thuận về việc tạm ngừng cấp dưỡng. Còn hiện nay, tại các quy định của luật hôn nhân gia đình 2014 không có quy định về bù trừ nghĩa vụ cấp dưỡng mà chỉ có quy định chung là cha, mẹ có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con, còn phương thức thực hiện cũng như mức cấp dưỡng pháp luật thường tôn trọng thỏa thuận của các bên. Như vậy, nếu công việc của anh không ổn định thì có thể thỏa thuận về mức cấp dưỡng cũng như tạm ngừng cấp dưỡng và thay đổi phương thức cấp dưỡng theo quy định tại điều 117 của luật hôn nhân gia đình 2014.

"Điều 117. Phương thức cấp dưỡng

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết".

>> Xem thêm: Hai vợ chồng đều không có công việc ổn định ai được quyền nuôi con sau ly hôn?

3. Xin tư vấn về giải quyết quyền nuôi con khi thuận tình ly hôn ?

Lời đầu tiên cho tôi xin được gửi lời chào tới toàn bộ các anh chị của văn phòng luật của công ty. Tôi được biết công ty qua trang Web của công ty nhưng vì điều kiện ở xa nên không trực tiếp đến gặp các anh chị để xin tư vấn về trường hợp của tôi vì thế tôi gửi email này kính mong anh chị tư vấn cho tôi trong trường hợp sau đây. Sau một thời gian chung sống thì vợ chồng tôi đã quyết đinh và thoả thuận với nhau thuận tình ly hôn. Về tài sản chung cũng như vay nợ chung đều không có. Nhưng chúng tôi có hai con. Con lớn gần 5 tuổi và con thứ 2 gần 4 tháng. Chúng tôi thoả thuận viết trong đơn thuận tình ly hôn là cháu lớn sẽ ở với tôi (tức là ở với bố) và cháu nhỏ sẽ ở với mẹ cháu tức là vợ tôi. Nhưng theo ý kiến của vợ tôi thì trong đơn chỉ viết là tôi sẽ nuôi cháu lớn và không cần nhắc đến cháu thứ hai. Vậy tôi muốn nhờ các anh chị tư vấn cho tôi nếu trong đơn thuận tình ly hôn viết như vậy thì khi tòa án giải quyết thì quyền nuôi con có thuộc về tôi hay không? Và liệu có xảy ra trường hợp sau khi nộp đơn giải quyết tại tòa án thì vợ tôi có thể thay đổi lại quyết định và tranh giành quyền nuôi con ngay tại tòa hay không? Nếu xảy ra trường hợp như vậy thì tòa sẽ giải quyết theo trình tự như thế nào và quyền nuôi cháu lớn sẽ thuộc về ai. Và việc không đưa cháu thứ hai vào đơn thuận tình ly hôn sẽ có ảnh hưởng gì đến quyết định của tòa án hay không cũng như có ảnh hưởng gì đến quyền nuôi cháu lớn khác như đã thỏa thuận trong đơn thuận tình gửi lên tòa án trước đó hay không ? Xin chân thành cảm ơn các quý anh chị đã dành thời gian đọc lấy thư này.
Chúc anh chị một ngày làm việc thành công tốt đẹp!

Luật sư tư vấn hôn nhân gia đình về tranh chấp quyền nuôi con, gọi: 1900.1940.

Trả lời:

Vợ chồng bạn thoả thuận viết trong đơn thuận tình ly hôn là cháu lớn sẽ ở với bạn (tức là ở với bố) và cháu nhỏ sẽ ở với mẹ cháu tức là vợ bạn. Nhưng theo ý kiến của vợ bạn thì trong đơn chỉ viết là tôi sẽ nuôi cháu lớn và không cần nhắc đến cháu thứ hai. Trong trường hợp này, tòa án vẫn sẽ giải quyết quyền nuôi cháu lớn thuộc về bạn vì cả hai vợ chồng bạn đã đồng ý bạn sẽ nuôi cháu lớn điều này được thể hiện trên đơn thuận tình ly hôn của hai vợ chồng.

Theo hướng dẫn tại Mục 9, Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

"a. Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì Toà án vẫn phải tiến hành hoà giải. Trong trường hợp Toà án hoà giải không thành thì Toà án lập biên bản về việc tự nguyện ly hôn và hoà giải đoàn tụ không thành. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện Kiểm sát không có phản đối sự thoả thuận đó, thì Toà án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không phải mở phiên toà khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

- Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn;

- Hai bên đã thoả thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con;

- Sự thoả thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.

Quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay, các bên không có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.

b. Trong trường hợp hoà giải tại Toà án mà thiếu một trong các điều kiện được nêu tại điểm a mục này thì Toà án lập biên bản về việc hoà giải đoàn tụ không thành về những vấn đề hai bên không thoả thuận được hoặc có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con, đồng thời tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung."

Như vây, sau khi vợ chồng bạn nộp đơn thuận tình ly hôn thì tòa án vẫn sẽ phải tiến hành hòa giải. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày lập biên bản, vợ bạn vẫn có thể thay đổi quyết định và tranh giành quyền nuôi con. Khi đó, Toà án lập biên bản về việc hoà giải đoàn tụ không thành về những vấn đề hai bên không thoả thuận được đồng thời tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Và việc không đưa cháu thứ hai vào đơn thuận tình ly hôn sẽ không ảnh hưởng gì đến quyết định của tòa án. Vợ chồng bạn có hai con: Con lớn gần 5 tuổi và con thứ 2 gần 4 tháng. Theo khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền nuôi con thứ hai sẽ thuộc về vợ bạn. Quyền nuôi con lớn sẽ do tòa án phân xử.

>> Xem thêm: Ly hôn và đòi quyền nuôi con khi vợ bỏ đi không liên lạc ?

4. Tư vấn về ly hôn đơn phương và giành quyền nuôi con như thế nào ?

Thưa luật sư! Gia đình em bán hàng ăn, còn vợ chưa học xong. Hai vợ chồng có một con trai sinh tháng 4 năm 2015. Nay vợ chồng có sự cố trong hôn nhân gia đình. Vợ đưa con về nhà ngoại từ trước Tết nguyên đán 2016 . Vợ em có thái độ thiếu văn hóa đối với bố mẹ chồng, thiếu tôn trọng với mọi người, nhiều lần em khuyên bảo nhưng không thay đổi, để cho anh em hàng xóm láng giềng nhiều lần nhắc nhở . Đến nay em muốn xin ly hôn và giành quyền chăm sóc con ?
Xin luật sư tư vấn giúp. Em chân thành cám ơn.

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hôn nhân, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định ly hôn theo yêu cầu 1 bên như sau: " Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

- Về thủ tục ly hôn

Bạn cần phải chuẩn bị hồ sơ đơn phương ly hôn, gồm có:

+ Đơn xin ly hôn đơn phương

+ Biên bản hòa giải không thành (áp dụng đối với trường hợp xin ly hôn đơn phương);

+ Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có Sao y bản chính, của nguyên đơn và bị đơn).

+ Bản chính giấy chứng nhận kết hôn.

+ Bản sao có chứng thực giấy khai sinh con (nếu có con).

+ Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).

Thẩm quyền của Tòa án đối với ly hôn đơn phương là nơi bị đơn cư trú, làm việc.

- Về quyền nuôi con

Theo Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

>> Như vậy, hiện tại con bạn dưới 36 tháng tuổi thì sau khi ly hôn, về nguyên tắc, quyền nuôi con sẽ thuôc về người mẹ ( trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con).

>> Tham khảo bài viết liên quan: Quyền nuôi con khi chưa có công việc ổn định được không ?

5. Tôi là bố có được quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

Thưa luật sư, vợ chồng tôi đang chuẩn bị ly hôn. Con tôi năm nay 4 tuổi rồi, tôi là bố muốn giành quyền nuôi con có được không?

Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: hoabang...@gmail.com

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình 1900.1940

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Do con bạn đã được 4 tuổi, vì vậy, nếu bạn và vợ không tự thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì Tòa án sẽ xem xét đến quyền lợi về mọi mặt của con sau đó quyết định giao con cho một bên nuôi dưỡng. Như vậy, trong trường hợp này bạn vẫn có thể giành được quyền nuôi con.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.!

>> Xem ngay: Quyền nuôi con sau khi ly hôn khi bố mẹ không thỏa thuận được ?

6. Tư vấn ly hôn và giành quyền nuôi con khi chồng ngoại tình ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Hiện nay tôi và chồng đang có ý định ly hôn. Chúng tôi có hai đứa con: con lớn 32 tháng, con bé 15 tháng. Tôi hiện là giáo viên tiểu học, chồng tôi là lái xe.

Nếu chúng tôi ly hôn thì hai đứa con tôi có được sống với mẹ không? Trường hợp nếu đứa con lớn của tôi trên 36 tháng thì tôi có được quyền nuôi cả hai đứa không? Hiện tôi sống ở Quảng Bình còn chồng tôi ở Đồng Nai. Chồng tôi có bồ, hai người sống chung với nhau nhưng tôi không trực tiếp bắt gặp mà chỉ nghe tôi họ chồng nói. Như vậy tôi có được nuôi hai đứa con không?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: D.N

Tư vấn ly hôn và giành quyền nuôi con khi chồng ngoại tình ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

Hiện nay vấn đề nuôi con sau ly hôn thì theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy vợ chồng có thể thỏa thuận người trực tiếp nuôi con sau khi li hôn. Nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu tòa án quyết định. Tòa án sẽ căn cứ vào quyền và lợi ích của con. Về mặt nguyên tắc nếu con dưới 36 tháng tuổi sẽ do mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong trường hợp ở đây con bạn cháu lớn 32 tháng tuổi, cháu nhỏ 15 tháng tuổi. Như vậy về mặt nguyên tắc thì chị sẽ là người trực tiếp nuôi con trừ trường hợp bạn không đủ điều kiện trực tiếp trông nom chăm sóc nuôi dưỡng cho con.

Giải sử trong trường hợp như chị nói nếu như cháu lớn của chị trên 36 tháng thì trong trường hợp này chị không có quyền ưu tiên nữa nên Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để quyết định người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, nếu cháu từ đủ 7 tuổi trở lên thì sẽ phải xem xét đến nguyện vọng của cháu.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại gọi 1900.1940

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Côn ty luật Minh KHuê