1. Tư vấn luật hôn nhân gia đình về vấn đề ly hôn ?

Yêu cầu tòa án giải quyết thủ tục ly hôn trong những năm qua tăng cao. Luật Minh Khuê hướng dẫn giải quyết thủ tục ly hôn theo quy định của luật Hôn Nhân gia đình:

Trả lời:

Chào bạn! Với những thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi xin được tư vấn cho bạn như sau

Tư vấn về quyền xin ly hôn:

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

>> Theo quy định này, pháp luật cho phép vợ hoặc chồng đơn phương ly hôn. Tuy nhiên, nếu như thuận tình ly hôn thì Tòa án xem xét sự thuận tình, tự nguyện của các bên, còn đơn phương ly hôn thì Tòa án lại xem xét chủ yếu căn cứ mà bên đơn phương ly hôn đưa ra. Điều luật quy định rằng: "hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được".

Chào Luật Minh Khuê. Xin luật sư tư vấn cho việc ly hôn của em gái tôi, trường hợp người chồng nghiện rượu chè, cờ bạc, đánh đập vợ. thì em tôi có được ly hôn đơn phương không ? Việc phân chia tài sản của hai bên sẽ thế nào ạ? Cảm ơn luật sư.

>> Như vậy, nếu như có hành vi bạo lực gia đình thì vợ chồng hoàn toàn có quyền đơn phương ly hôn. Ngoài ra pháp luật còn quy định

"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Tuy nhiên việc ép buộc giải quyết ly hôn là không hợp lý. Tòa án chỉ giải quyết khi có căn cứ cho rằng mâu thuẫn do chính 2 vợ chồng bạn tậ ra, chứ không phải do sự ép buộc từ người thứ ba.

Kính gửi luật sư. Em vừa cưới ngày 8-5 và đã đăng ký kết hôn ngày 29-4-2016.cưới xong gia đình nhà chồng em đuổi em ra khỏi nhà .Mẹ và ông nội chồng em lấy cái chết ra để ép chồng em phải ly hôn. Lý do là vì em lớn hơn chồng em 14 tuổi và đã từng lập gia đình nhưng đã ly hôn. Bây giờ cả em và chồng em đang rất đau khổ suy sụp tinh thần. Gia đình chồng của em còn đi sang gia đình chồng cũ của em để điều tra .Bây giờ chồng em và em mỗi người một nơi gia đình chồng em còn thu cả điện thoại của chồng em để vợ chồng em không được liên lạc với nhau. Em viết thư này nhờ luật sư tư vấn giúp em cách giải quyết.

>> Lý do này chưa hợp lệ và nhiều khả năng không được tào án thụ lý.

Tư vấn về quy định hòa giải tại tòa án:

Pháp luật có quy định:

"Điều 52. Khuyến khích hòa giải ở cơ sở

Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở."

"Điều 54. Hòa giải tại Tòa án

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự."

Chào luật Minh Khuê, em đã nộp đơn đơn phương ly hôn đã được 1 tuần mà chưa thấy tòa gọi nộp án phí không biết bao lâu kể từ ngày nhận đơn tòa mới gọi nộp án phí, và gọi theo hình thức nào (gọi điện hay gởi thông báo đến nhà). Em đã thương lượng với chồng là miễn hòa giải vậy mẫu đơn miễn hòa giải như thế nào và khi có đơn miễn hòa giải của 2 vợ chồng ký thì em sẽ không cần hòa giải đúng không ạ? Xin luật sư tư vấn giúp, em cảm ơn.

>> Như vậy thủ tục hòa giải tại tòa án vẫn là thủ tục bắt buộc.

3.Quyền nuôi con sau ly hôn

Khoản 2 và khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Chào luật sư Minh Khuê. Em muốn được luật sư tư vấn về việc ly hôn dành việc nuôi con ạ. Vợ chồng em kết hôn năm 2013 và có con chung bé được 18 tháng. Do quá trình chung sống có nhiều chuyện xảy ra mâu thuẫn từ mẹ chồng nàng dâu và nhiều mâu thuẫn vợ chồng nên em xin ly hôn. Cảm ơn luật sư.
Chào luật sư. Vợ chồng tôi thuận tình ly hôn, tôi nuôi con(bé 16 tháng tuổi) nhưng chồng tôi không chịu chu cấp tiền nuôi dưỡng hàng tháng. Vậy khi chia đôi tài sản thì 1/2 tài sản của chồng tôi sẽ trừ dần mà không trả lại cho anh ta có được không( tổng tài sản chung là 300triệu).Cảm ơn luật sư

>> Như vậy, vợ chồng bạn có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Trong trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ căn cứ và quyền lợi mọi mặt của con để quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi. Tuy nhiên, nếu bé nhà bạn dưới 36 tháng tuổi thì bé sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi.

Còn mức cấp dưỡng hiện nay chưa có quy định cụ thể về con số nào đó nhứng có căn cứ tính mức cấp dưỡng này. Cụ thể về việc trừ dần vào tài sản chung thì bạn cần được sự đồng ý từ người chồng hoặc tòa án xác nhận.

4. Chuyển khẩu sau ly hôn:

Chào luật sư. Em tôi đã nhận quyết định ly hôn của tòa án năm 2012 .Trong thời gian kết hôn em tôi đã nhập khẩu về nhà vợ, cho tới nay đã ly hôn gần 4 năm vẫn chưa chuyển được khẩu về quê gốc.Với lý do khác nhau mà nhà vợ cũ của em tôi không làm giấy chuyển khẩu. Việc chuyển khẩu của em tôi ở địa bàn đó là họ không làm cho,vậy em tôi phải làm thế nào để được chuyển khẩu về quê gốc mà không phải lên xã đó làm? Cảm ơn luật sư.

>> Về nguyên tắc em trai bạn có quyền được tách hộ khẩu thường trú. Việc không chấp nhận hay làm khó trong công tác tách khẩu, em bạn có thể làm đơn khiếu nại và chờ giải quyết.

>> Tham khảo thêm nội dung bài viết: Tư vấn về hồ sơ ly hôn đơn phương khi không có giấy tờ của chồng ?

2. Thủ tục ly hôn thực hiện như thế nào ?

Em chào anh chị ạ. Anh chị cho em hỏi vấn đề ly hôn được không ạ, thủ tục ly hôn thực hiện như thế nào ? Cảm ơn!

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Vì trong câu hỏi bạn không nêu rõ rằng bạn muốn biết thông tin về vấn đề cụ thể nào trong quá trình ly hôn (ly hôn đơn phương hay thuận tình ly hôn, thủ tục, chia tài sản, phân chia quyền nuôi con,...) nên chúng tôi xin cung cấp một số bài viết sau để chị tham khảo về vấn đề của mình:

Thủ tục ly hôn thực hiện như thế nào ? Cần những giấy tờ gì ? Hướng dẫn viết đơn ly hôn ?

Mẫu đơn thuận tình ly hôn

Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương

3. Tư vấn về vấn đề thủ tục ly hôn ?

Xin luật sư cho tôi hỏi: 2 vợ chồng tôi có KT3 ở Tân Bình- TPHCM, tôi vẫn nằm trong hộ khẩu ở Gia Lai còn chồng tôi thì hộ khẩu ở Quảng Nam. Vậy tôi có xin giải quyết ly hôn ở TPHCM được không, và tôi không có được hộ khẩu của chồng thì cơ quan chức năng có giải quyết cho tôi không?

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

Theo “Điều 35. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ (Bộ luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung 2011)

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;.."

Với trường hợp của bạn nếu là ly hôn đơn phương, bạn sẽ gửi đơn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn cư trú, làm việc; nếu 2 bạn thỏa thuận được với nhau ( ly hôn thuận tình) thì sẽ nộp đơn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ hoặc chồng đang cư trú. Việc nộp đơn ly hôn không phụ thuộc vào đăng ký kết hôn ở đâu.

Hồ sơ khởi kiện xin ly hôn gồm có: (Hồ sơ có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường Bưu điện)

- Đơn xin ly hôn (theo mẫu);

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

- Sổ hộ khẩu, CMTND (bản sao chứng thực);

- Giấy khai sinh của con (bản sao chứng thực - nếu có);

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐ (sổ đỏ); Đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao chứng thực);

Như vậy, bạn cần có đủ giấy tờ trên, trường hợp bạn đã áp dụng đủ mọi biện pháp mà không có sổ hộ khẩu của chồng bạn thì làm đơn lên Tòa án xem xét.

>> Xem thêm: Hướng dẫn thủ tục ly hôn và cung cấp mẫu đơn ly hôn mới nhất ?

4. Tư vấn soạn thảo đơn xin ly hôn và thủ tục ly hôn ?

Chào luật sư! Kính mong luật sư giải đáp giúp tôi. Tôi với chồng tôi có quyết định ly hôn vào ngày 9.11.2015.

Chúng tôi có 1 con chung sinh ngày 8.1.2014. Tôi là người nộp đơn ly hôn.Trong lúc làm thủ tục ly hôn tôi có yêu cầu mình là người được nuôi con, nhưng lại quên không ghi là bố cháu phải chu cấp tiền cho cháu, thế nhưng khi thẩm phán hỏi miệng tôi là có yêu cầu chu cấp tiền nuôi con không, tôi trả lời là có. Đến khi có quyết định ly hôn thì tôi lại nhận được quyết định là mẹ được quyền nuôi dưỡng con, bố cháu không phải chu cấp tiền nuôi con,và có quyền được thăm nom con. Tôi nhận thấy quyết định này rất bất lợi cho tôi và tội nghiệp cho con tôi khi mà bố cháu không phải chu cấp tiền nuôi cháu. Vậy cho tôi hỏi tòa án nhân dân huyện nơi tôi cư trú giải quyết như vậy là đúng hay sai. Và tôi có thể nộp đơn kháng cáo được hay không, thủ tục và mẫu đơn như thế nào? Mong luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: H.Y

Video luật sư tư vấn và hướng dẫn giải quyết tranh chấp về quyền nuôi con khi ly hôn

Trả lời:

Chào anh. Cảm ơn anh đã gửi câu hỏi cho Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của anh như sau:

Anh thắc mắc rằng quyết định của Tòa án: "mẹ được quyền nuôi dưỡng con, bố cháu không phải chu cấp tiền nuôi con và có quyền được thăm nom con" như vậy là có đúng hay không.

+ Tại thời điểm Tòa án xét xử ly hôn, con anh sinh ngày 8/1/2014. Tại thời điểm đó cháu dưới 36 tháng tuổi nên theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì việc nuôi con sẽ do mẹ trực tiếp nuôi trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con. Quyết định này của Tòa án là đúng theo quy định của pháp luật.

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

+ Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn:

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Tại khoản 2 điều 82 có quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, theo đó anh hoàn toàn có thể cấp dưỡng cho con sau ly hôn. Tòa án ra quyết định anh không phải cấp dưỡng cho con thì không đúng theo quy định tại điều này.

+ Trong trường hợp anh muốn được nuôi con thì anh có thể yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn và việc thay đổi đó phải thuộc một trong các trường hợp sau:

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.
4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.
5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.

>> Xem ngay: Thực hiện thủ tục ly hôn không cần hòa giải có được không?

5. Tư vấn về ly hôn đơn phương, giải quyết vấn đề về con và tài sản ?

Thưa Luật sư. Hiện tại vợ chồng em có 1 bé gái hơn 3 tuổi, bây giờ em lại đang mang thai bé thứ 2 được 3 tháng. Tuy nhiên trong quá trình chung sống, vợ chồng em chưa bao giờ là hòa hợp. Nhất là về mặt kinh kế. Chồng em ở nhà bán hàng (nước giải khát) còn em thì làm nhân viên trong 1 công ty liên doanh. Anh ta đã 2 lần đánh em và gần đây nhất là khi em vẫn đang mang thai bé thứ 2.

Mỗi khi em hỏi anh ta về kinh tế thì anh ta đều cáu gắt và nếu em hỏi nhiều hơn anh ta lại dọa đánh em​. Anh ta thường hay rượu chè say xỉn và chơi bài bạc cả đêm​. Em không thể tiếp tục chung sống với anh ta và muốn được luật sư tư vấn cho em được rõ về thủ tục cũng như quyền và nghĩa vụ của 2 vợ chồng sau khi ly hôn. Em muốn được nuôi cả 2 bé có được không ạ?. Về tài sản: Vợ chồng mua 1 mảnh đất trị giá 500 triệu (chưa có sổ bìa đỏ) trong đó có 250 triệu là tiền của 2 vợ chồng làm ra. còn lại là số tiền vay mượn. ​Chúng em còn nợ chủ đất 100 triệu nên họ chưa cấp sổ bìa đỏ.​ Anh ta tiếp tục xây nhà trên mảnh đất đó và tiếp tục vay mượn. Món tiền này em không hề biết đến. Vậy khi ly hôn phần tài sản và nợ chung sẽ được giải quyết như thế nào thưa Luật sư? ​

Rất mong nhận được sự tư vấn sớm nhất từ các Luật sư! Em xin chân thành cảm ơn!​

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời

Trước hết, cần lưu ý rằng. Trong trường hợp này, chỉ có bạn mới có quyền yêu cầu ly hôn. Theo quy định tại khoản 3 Điều 51 thì chồng bạn sẽ không có quyền yêu cầu ly hôn trong hoàn cảnh này.

Thứ nhất, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

Theo quy định trên, một bên vợ hoặc chồng chỉ được yêu cầu ly hôn khi có căn cứ về việc "vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

Giải thích cho căn cứ này,Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng quy định của Luật HN&GĐ 2000 quy định như sau:

"a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt".

Như vậy, khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án bạn phải chứng minh được cuộc hôn nhân của bạn là không hạnh phúc và không thể kéo dài được nữa.

Thủ tục ly hôn đơn phương, bạn cần chuẩn bị hồ sơ như sau:

- Đơn khởi kiện ly hôn.

- Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.

- Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh của con chung (nếu có con chung).

- Bản sao có chứng thực CMND, sổ hộ khẩu của cả 2 vợ chồng.

-Giấy tờ chứng minh tài sản chung;

Hồ sơ này nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn đang cư trú, làm việc.

Thứ hai, đối với việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn: Vì bạn không cung cấp rõ là tài sản chung của bạn và chồng bạn bao gồm những gì nên chúng tôi xin được dự tính phần tài sản chung của hai bạn là mảnh đất và ngôi nhà trên mảnh đất đấy. Theo đấy, Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vự chồng khi ly hôn như sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Như vậy, trong trường hợp bạn và chồng bạn trước khi kết hôn lựa chọn chế dộ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận (kết hôn sau thời điểm luật hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực) thì việc chia tài sản sẽ tuân theo thỏa thuận cuar các bên. Còn trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng bạn là theo pháp luật thì về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn sẽ được chia đôi và có tính đến một số yếu tố quy định ở trên.

Thứ ba, về quyền nuôi con khi ly hôn. ĐIều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về vấn đề trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì nếu vợ chồng bạn không thỏa thuận được về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Đối với đứa bé 3 tháng tuổi trong bụng mẹ thì sau khi sinh ra bạn sẽ có quyền nuôi dưỡng (nếu hai vợ chồng không có thỏa thuận khác), tuy nhiên đối với bé gái hơn 3 tuổi thì Tòa án sẽ dựa vào điều kiện của các bên, khả năng đáp ứng về quyền lợi mọi mặt của ocn để ra quyết định giao con cho ai là người trực tiếp nuôi dưỡng.

Thứ tư, đối với khoản nợ chung của vợ chồng khi ly hôn:

Điều 60. Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.

Tức là vợ chồng bạn có thể thỏa thuận với bên thứ ba (người cho vay) về việc thanh toán khoản nợ. Nếu không thỏa thuận được, thì áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.

Trong đó, các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 bao gồm:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Như vậy, đối với khoản nợ 100 triệu và khoản nợ chồng bạn vay để xây nhà được coi là khoản nợ vay để nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia điình nên nếu vợ chồng bạn không thỏa thuận được thì hai vợ chồng sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm đối với khoản nợ.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

6. Giải đáp các vấn đề liên quan đến ly hôn ?

Xin kính chào Công ty Luật Minh Khuê ! Tôi lấy chồng mới được có 8 tháng, tôi về làm dâu nhà chồng tôi và đã cắt khẩu về nhà chồng, nhưng do bên nhà chồng mẹ chồng luôn luôn để ý tôi, bên cạnh đó chồng tôi luôn nghe lời mẹ, lấy nhau được từng đó tháng mà chồng tôi không bao giờ gọi điện thoại hỏi thăm bên nhà mẹ đẻ tôi cả .

Tôi mang bầu cũng không quan tâm, cứ tức lên là chửi tôi không ra gì, đồ ăn bám. Tôi ốm đau cũng không quan tâm gì cả. Tôi đã xin về nhà mẹ đẻ ở, lúc tôi sinh con nhà chồng và chồng tôi không có hỏi được một lời, còn nói tôi viết đơn đi rồi ra tòa .Thưa luật sư giờ tôi muốn viết đơn có được không ạ ? Mà khẩu của tôi đã được cắt về nhà chồng mà nhà tôi thì ở trong Nam, chồng tôi ở ngoài Bắc vậy tôi làm đơn ly hôn ở trong Nam có được không? Nếu tôi làm đơn đơn phương trong Nam có được không ạ ? Vì giờ tôi mà về nhà chồng tôi thì sẽ bị đánh đập tới chết. Con tôi mới sinh được 4 tháng, mà chồng tôi không quan tâm gì con cả, lại có tính cờ bạc. Vậy tôi có được quyền nuôi con không?

Xin chân thành cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Có được làm đơn ly hôn hay không?

- Theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 , về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn được quy định như sau:

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Như vậy, bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn theo yêu cầu của 1 bên hoặc thuận tình ly hôn.

Chú ý: Theo quy định tại khoản 3 ở trên, trong trường hợp này con của 2 bạn mới được 4 tháng tuổi do đó chồng của bạn không có quyền yêu cầu ly hôn.

- Theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định như sau:

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Như thông tin bạn cung cấp gia đình chồng và chồng không quan tâm đến bạn, luôn chửi bới bạn đặc biệt là chồng bạn còn có hành vi đánh đập bạn. Do đó bạn hoàn toàn có quyền làm đơn ly hôn đơn phương. Tòa án sẽ tiến hành giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng bạn có hành vi bạo lực gia đình.

Làm đơn ly hôn ở trong Nam được không?

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ như sau :

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

c) Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản.

Ở đây chị là người làm đơn ly hôn, do đó chị đóng vai trò là nguyên đơn còn chồng chị là bị đơn. Như vậy theo quy định tại điểm a ở trên thì chị phải nộp đơn tại Tòa án nơi mà bị đơn (chồng chị) cư trú, làm việc ở ngoài Bắc. Hoặc là vợ chồng chị có thể thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú làm việc của nguyên đơn ( Tòa án nơi cư trú làm việc của chị ) để giải quyết theo quy định tại điểm b ở trên.

Bạn có được quyền nuôi con hay không?

Theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, con bạn mới được 4 tháng tuổi khi đó bạn sẽ được trực tiếp nuôi con nếu bạn có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Hôn nhân và gia đình - Công ty luật Minh Khuê