1. Tư vấn ly hôn đơn phương, đòi quyền nuôi con và chia tài sản ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Em gái tôi sinh năm 1992, Kết hôn cùng một người sinh năm 1987 khác xã (cùng huyện) vào năm 2012.

Hai vợ chồng có 1 con gái chung. 1,5 tuổi - Tài sản chung gồm: ( Tất cả tài sản đứng tên chồng) + 1 xe máy + 1 Cơ sở sản xuất đá lạnh và kinh doanh hải sản đông lạnh ( Chung cùng chị gái chồng) + 1 nhà ở ( Nhà xây 1 tầng trên đất của bố mẹ chồng chia cho vợ chồng em gái tôi khi ở riêng, (ở riêng do mâu thuẫn tháng 9/2014) nhưng chưa sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng em gái của tôi) + Một khoản nợ khoảng 200 triệu, Nhưng không có giấy tờ vay mà chỉ thỏa thuận miệng nhờ bố mẹ tôi và các chú trong gia đình tôi đứng tên vay ngân hàng cho để xây nhà. Tháng 9/2014 mẹ chồng và các anh chị của chồng em gái tôi cho rằng em gái tôi lấy trộm tiền hàng của gia đình trong khi đi bán hàng chung cùng mẹ. Nhưng không có chứng cứ chứng minh mà chỉ qua phỏng đoán và suy luận. Gia đình nhà chồng bắt em gái tôi tự nhận là đã lấy cắp số tiền trước anh em họ hàng gia đình và sẽ bỏ qua. Nhưng em gái tôi nhất quyết không chịu nhận vì cho rằng mình không lấy. Qua sự việc này đã làm cho mẫu thuẫn gia đình vợ chồng em gái tôi xảy ra rất lớn (cãi vã, đánh nhau, nhiều lần em gái tôi phải bỏ về nhà tôi để ở do không chịu được chửi mắng của gia đình chồng.). Thêm vào đó, nhà chồng của em gái tôi còn cho rằng từ khi em gái tôi về làm dâu thì gia đình họ mới xảy ra các mâu thuẫn gia đình như anh chị em cãi vã, đánh nhau, nên thường chử mắng là có ý xua đuổi em gái tôi. Do gia đình tôi, nhất là bố mẹ mong muốn em gái ổn định và muốn hòa thuận nên khuyên em nhịn và làm tất cả mọi điều. Và em gái tôi đã ký vào giấy cam kết của mẹ chồng viết sẵn là : Thú nhận mình lấy tiền và hứa một số điều liên quan đến danh dự bản thân. Sao đó, mẹ chồng của em gái tôi photo bản sao để phát cho các con trong gia đình ( Tức anh chị em của chồng) Sau khi hòa giải hai vợ chồng em gái tôi tách ra ở riêng (Trước đó ở trên nhà cấp 4 của bố mẹ) nhưng vẫn xây nhà trên phần đất bố mẹ chồng chia cho, nhưng chưa sang tên quyền sử dụng đất. Hiện nay, Do nhiều mâu thuẫn trong kinh tế làm ăn chung, và tình cảm gia đình khúc mắc, các anh chị chồng thường đưa chuyện cũ xảy ra hồi tháng 9/2014 để lăng mạ và liên tục xua đuổi em gái tôi ra khỏi nhà. (Vì nhà xây trên đát bố mẹ) Hơn nữa chồng em gái tôi cũng có hành động vũ phu, đóng cửa phòng để đánh Vợ, và hành hạ về tinh thần (Ngoài việc hàng ngày chỉ đưa hàng vào chợ cho mẹ xong là đưa bạn bè về nhà uống bia rượu, không ăn uống và hỏi han, nói chuyện gì với vợ con. Nếu em gái tôi có đặt vấn đề giải quyết mâu thuẫn gia đình là vịn cớ để chửi mắng và đánh đập.. Hoảng loạn và bị đánh em gái đã gọi bố mẹ tôi tới đưa về để ở tạm. Nhận thấy tình cảm gia đình không còn hàn gắn được ở các điểm: Tình cảm vợ chồng quá tồi tệ, không thể chịu đựng được. Các anh chị trong gia đình chồng thường có thái độ kỳ thị. Ngay cả tình cảm gia đình nhà chồng cũng là một điều không tốt khi giữa các anh chị em và chồng thường xung đột đánh đập và chửi nhau ( Có từ trước khi vợ chồng mâu thuẫn) Nên em gái tôi quyết định ly hôn đơn phương.

Vậy mong muốn đoàn luật Minh Khuê tư vấn giúp em gái tôi một số khúc mắc:

1/ Em gái tôi muốn quyền nuôi con. Hiện tại, Con gái chung 1,5 tuổi theo quy định là em gái tôi được nuôi cháu. Nhưng do em gái tôi không có nghề nghiệp chính gì. Mà từ khi về nhà chồng là làm kinh doanh cùng gia đình chồng. Vậy đây có phải là lý do cản trở quyền nuôi con của em gái tôi không và phải làm gì để có quyền nuôi con ? Nếu em gái tôi có ý định học nghề sau ly hôn hoặc tìm một công việc khác bất kỳ để lao động nuôi con được không. Hoặc còn lý do nào cản trở quyền nuôi con không? (Tình trạng sức khỏe của em gái tôi tốt. Đủ năng lực hành vi dân sự để lao động)

2/ Nếu em gái tôi được quyền nuôi con, thì có được yêu cầu trợ cấp nuôi con 1 lần hay không ? Do em gái tôi không muốn nhận theo hàng tháng. Điều kiện để được yêu cầu cấp dưỡng nuôi con một lần?

3/ Em gái tôi muốn chia tài sản là nhà ở đang ở đã xây trên đất bố mẹ chồng cho nhưng không sang tên quyền sử dụng. (không đòi chia đất), cơ sở đông lạnh chung cùng chị gái chồng trên đất của bố mẹ chồng luôn. Để trả số nợ đã nhờ bên gia đình tôi vay cho để xây nhà. Nhưng tài sản đứng tên chồng thì làm thế nào

4/ Trường hợp em gái tôi đơn phương ly hôn, Nhưng không đủ hồ sơ. Do không mượn được chứng minh thư của chồng và giấy chứng nhận tài sản liên quan thì phải làm thế nào? Vì nhà chồng không muốn giả quyết ly hôn mà để dai dẳng để hành hà tinh thần em gái tôi.

Rất mong nhận được sự giúp đỡ của đoàn luật Minh Khuê. Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: M.N

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900 6162

Trả lời:

Cám ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi cho chúng tôi, chúc bạn sức khỏe . Vấn đề của bạn như sau:

Như pháp luật quy định, kết hôn hay ly hôn là quyền nhân thân của mỗi người, em gái bạn có quyền xin được tòa giải quyết cho ly hôn đơn phương. Một số thắc mắc xin được giải đáp như sau:

1/ Em gái tôi muốn quyền nuôi con. Hiện tại, Con gái chung 1,5 tuổi theo quy định là em gái tôi được nuôi cháu. Nhưng do em gái tôi không có nghề nghiệp chính gì. Mà từ khi về nhà chồng là làm kinh doanh cùng gia đình chồng. Vậy đây có phải là lý do cản trở quyền nuôi con của em gái tôi không và phải làm gì để có quyền nuôi con ? Nếu em gái tôi có ý định học nghề sau ly hôn hoặc tìm một công việc khác bất kỳ để lao động nuôi con được không. Hoặc còn lý do nào cản trở quyền nuôi con không? (Tình trạng sức khỏe của em gái tôi tốt. Đủ năng lực hành vi dân sự để lao động)

- Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền nuôi con khi ly hôn như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con

-Về nguyên tắc con chung được 1,5 tuổi, em gái bạn sẽ là người trực tiếp nuôi con, trừ trường hợp không đủ điều kiện trực tiếp trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con.

->Như vậy điều kiện về kinh tế hay chứng minh thu nhập tài chính cũng là một trong những yếu tố để tòa án xem xét ai sẽ là người trực tiếp nuôi con. Nếu hiện tại em gái bạn không có nghề nghiệp, không chứng minh được thu nhập có thể chăm sóc nuôi dưỡng con thì đây là 1 lý do cản trở em gái bạn giành quyền nuôi con. Tuy nhiên em gái bạn hoàn toàn có thể tìm kiếm cho mình một công việc và chứng minh thu nhập tháng từ công việc, cũng như thu nhập khi chia tài sản chung sau ly hôn, tài sản này sẽ được xem xét tại tòa.Khi đáp ứng đủ điều kiện về vật chất, nếu như em giá bạn sức khỏe tốt, đủ năng lực hành vi để lao động, yêu thương chăm sóc con thì không còn lý do gì cản trở quyền nuôi con của em gái bạn.

2/ Nếu em gái tôi được quyền nuôi con, thì có được yêu cầu trợ cấp nuôi con 1 lần hay không ? Do em gái tôi không muốn nhận theo hàng tháng. Điều kiện để được yêu cầu cấp dưỡng nuôi con một lần

-Căn cứ điều 82 luật hôn nhân và gia đình có quy định rõ: Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

-Về phương thức và mức cấp dưỡng:

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 117. Phương thức cấp dưỡng

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Như vậy trước tiên pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của mỗi bên, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa giải quyêt.

->Để được yêu cầu cấp dưỡng một lần em gái bạn cần có đơn yêu cầu xin cấp dưỡng 1 lần, xem xét dựa trên khả năng kinh tế của bên có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng..

3/ Em gái tôi muốn chia tài sản là nhà ở đang ở đã xây tên đất bố mẹ chồng cho nhưng không sang tên quyền sử dụng. (không đòi chia đất), cơ sở đông lạnh chung cùng chị gái chồng trên đất của bố mẹ chồng luôn. Để trả số nợ đã nhờ bên gia đình tôi vay cho để xây nhà. Nhưng tài sản đứng tên chồng thì làm thế nào?

-Em gái bạn nên xác định tài sản chung vợ chồng và yêu cầu tòa giải quyêt. Về nguyên tắc tài sản đứng tên chồng không có nghiã là tài sản riêng của chồng, nếu là tài sản riêng người chồng phải chứng minh được, nếu không chứng minh được thì được xác định là tài sản chung và chia đôi hoặc chia theo công sức đóng góp như luật định:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này

->Như vậy căn nhà nếu là tài sản chung sẽ được chia, quyền sử dụng đất không là tài sản chung sẽ không được chia. Tương tự với nghĩa vụ về khoản nợ 200 triệu thì vợ và chồng sẽ liên đới chịu trách nhiệm trả nợ.

4/ Trường hợp em gái tôi đơn phương ly hôn, Nhưng không đủ hồ sơ. Do không mượn được chứng minh thư của chồng và giấy chứng nhận tài sản liên quan thì phải làm thế nào? Vì nhà chồng không muốn giả quyết ly hôn mà để dai dẳng để hành hạ tinh thần em gái tôi.

Hồ sơ xin ly hôn đơn phương:

+ Đơn xin ly hôn (Theo mẫu)

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

+ Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

+ Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực).

-> Khi nộp đơn cho tòa án, nếu vẫn thiếu giấy tờ nào đó theo yêu cầu của tòa án mà em gái bạn không thể bổ sung được thì cứ xin tòa nhận đơn( trình bầy rõ lý do trong đơn), trong quá trình thụ lý và giải quyết tòa án sẽ yêu cầu chồng cuả em gái bạn bổ sung sau, gia đình bạn không cần quá lo lắng. Chúc em gái bạn và gia đình thành công. Mọi chi tiết xin lien hệ 1900 6162

>> Xem thêm: Án phí ly hôn áp dụng mới nhất áp dụng hiện nay là bao nhiêu tiền ?

2. Chi tiết về thủ tục ly hôn đơn phương và cách chia tài sản chung ?

Kính thưa Luật sư! Chồng em muốn ly hôn triệu tập lần thứ nhất em đi và đã cho lời khai. Tòa triệu tập lần thứ 2 em không đi thì có sao không ? Chồng em ly hôn đơn phương được không và mất bao lâu ? Tài sản chung của vợ chồng em được chia như thế nào ? Xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hôn nhân: 1900 6162.

Trả lời:

Chồng bạn hoàn toàn vẫn có thể ly hôn được, thủ tục ly hôn như sau:

a. Hồ sơ ly hôn bao gồm:

-Đơn xin ly hôn

-Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

-Bản sao có chứng thực chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng

-Bảo sao giấy khai sinh của con (nếu có)

-Các giấy tờ chứng minh tài sản chung (nếu có).

Bạn có thể tham khảo cách viết đơn xin ly hôn tại đây

b. Nơi nộp hồ sơ: Hồ sơ xin ly hôn sẽ nộp tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết

Về thẩm quyền theo cấp: Khỏa 1 Điều 33 Luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 có quy định:

"1. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này; "

Về thẩm quyền theo lãnh thổ: Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 như sau:

"a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này; "

Theo quy định của Điều 52 Bộ luật dân sự 2005, thì “1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này (Điều 52 BLDS) thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống”.

Trường hợp không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 36 BLDS như sau:

"1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết; "

Như vậy, Hồ sơ xin ly hôn sẽ được nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu không biết nơi cư trú, làm việc thì sẽ là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc cuối cùng).

Thủ tục giải quyết

a. Nhận đơn và thụ lý

ĐIều 167 BLTTDS quy định:

"Toà án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:

1. Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

2. Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;

3. Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án."

"Điều 171. Thụ lý vụ án

1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thì Toà án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Toà án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

2. Toà án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí.

3. Toà án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí."

Theo đó, trong vòng 5 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ của bạn thì Tòa án sẽ thông báo cho bạn về việctiến hành thụ lý và yêu cầu bạn nộp tiền tạm ứng án phí nếu hồ sơ của bạn đủ căn cứ để giải quyết. Việc thông báo và yêu cầu nộp tiền tạm ứng sẽ được thực hiện theo thủ tục cấp, tống đạt giấy tờ quy định tại Điều 146 BLTTDS.

Vì bạn ly hôn đơn phương nên theo quy định của nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP có quy định về việc nộp tiền tạm ứng án phí như sau:

-Trường hợp không có tranh chấp về tài sản: Khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP quy định:

"a) Trường hợp vợ hoặc chồng có yêu cầu thì người yêu cầu phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 200.000 đồng;"

-Trường hợp có tranh chấp về tài sản: Khoản 3 Điều 11 Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP quy định: "3. Trường hợp ngoài yêu cầu ly hôn, đương sự còn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu chia 1/2 giá trị tài sản chung của vợ chồng thì người có yêu cầu phải nộp tiền tạm ứng án phí đối với 1/2 giá trị tài sản chung của vợ chồng."

Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Toà án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ án. Yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án hoặc Thực hiện một hoặc một số biện pháp để thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 85 của BLTTDS.

Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo

Trường hợp bạn không đến phiên tòa, kho Tòa án đã triệu tập lần thứ hai thì Tóa án sẽ xét xử vắng mặt bạn.

Điều 199 Luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định:

Điều 199. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

b) Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu độc lập có người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.”

Về tài sản chung, được thực hiện theo Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

"1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thủ tục ly hôn đơn phương và giành quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi ?

3. Tư vấn việc ly hôn đơn phương và việc vi phạm pháp luật hôn nhân gia đình ?

Thưa Luật sư, tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi và vợ đăng ký kết hôn tháng 1 năm 2008. Đến khoảng tháng 6 năm 2008, vợ tôi bỏ đi sang Singapo làm việc và chúng tôi sống li thân từ đó. Đến thang 4 năm 2009, chúng tôi lại sống với nhau. Đến thang 12 nam 2008 thì vợ tôi sinh đứa con, nhưng mãi về sau này tôi mới biết đứa con đó là của 1 người bên Singapo.

Vợ tôi làm giấy tờ khai sinh cho cháu và cha của cháu cũng về làm giấy tờ và xét nghiệm ADN để sau này nhận con. Thời gian đó tôi có hỏi luật sư về tình hình vợ tôi như thế luật sư nói vợ tôi vi phạm luật hôn nhân với người nước ngoài nếu ra tòa thì có thể bị đi tù. Vì tôi còn yêu vợ nên tôi bỏ qua tất cả tiếp tục sống với vợ tôi. Đến tháng 8 năm 2011, tôi và vợ có đứa con thứ 2 và nó cũng là đứa con đầu lòng của tôi .

Tôi tưởng cuộc sống hạnh phúc nào ngờ vợ tôi vẫn tính nào tật nấy nên nay tôi định làm đơn ly hôn. Vậy cho tôi hỏi vợ tôi vi phạm cụ thể như thế nào ? Bây giờ tôi muốn đơn phương ly hôn thì phải làm sao ? Nếu ly hôn ra tòa vợ tôi có bị pháp luật xử lý theo luật pháp hiện hành không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: V.T.M. Hạnh

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi. Thắc mắc của bạn sẽ được giải đáp như sau:

1) Hành vi của vợ bạn là hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng biểu hiện ở việc có con chung với người khác khi đang có chồng. Hành vi trên tùy vào mức độ nghiêm trọng mà có thể bị xử lý vi phạm hành chính hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng được quy định tại Điều 147 Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 (Luật Số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự) như sau:

"Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Theo đó, hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng chỉ cấu thành tội phạm nếu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Trong trường hợp của bạn, hành vi của vợ bạn chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng và cũng chưa bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi này nên chưa bị truy cứ trách nhiệm hình sự. Hành vi của vợ bạn có lỗi, vi phạm quy định pháp luật về hôn nhân gia đình và không phải là tội phạm nên theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 thì đây là hành vi vi phạm hành chính: "Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính."

Hành vi này của vợ bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã như sau:

"Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) ...

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

..."

2. Trình tự giải quyết yêu cầu ly hôn đơn phương được quy định tại các Điều 51,52,53,54,56 Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13. Theo đó, để xin đơn phương ly hôn thì bạn có thể gửi đơn yêu cầu ly hôn đến Tòa án. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Nếu hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đich của hôn nhân không đạt được.

Theo quy định tại khoản 1 và 4 Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự, để yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn thì bạn phải đưa ra các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp:

"Điều 79. Nghĩa vụ chứng minh

1. Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.

...

4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó."

Bạn muốn ly hôn vì vợ bạn tiếp tục ngoại tình nên căn cứ theo tiểu mục a1 khoản 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân gia đình 2000 thì đây là một căn cứ cho ly hôn:

"8. Căn cứ cho ly hôn (Điều 89)

a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được.

a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;"

3. Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự:

"Điều 5. Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.

..."

Như vậy, Tòa án giải quyết việc ly hôn chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện chứ không có thẩm quyền quyết định xử lý vợ bạn theo pháp luật hiện hành.

>> Xem ngay: Vợ đang mang thai thì chồng có quyền ly hôn đơn phương không ?

4. Thủ tục ly hôn đơn phương và quyền nuôi con?

Kính gửi Luật sư! Luật sư cho em hỏi về vấn đề ly hôn như sau: em, chồng em và bên nhà chồng em có mâu thuẫn và không thể hoà giải được vợ chồng cũng không ở chung với nhau 6 tháng. Em muốn ly hôn nhưng chồng em không đồng ý vậy có cách nào ly hôn được không ạ? Hiện em có 1 đứa con gái 3 tuổi, vậy em có quyền được nuôi con không?
Em xin cảm ơn!

Trả lời:

Trường hợp bạn muốn ly hôn nhưng chồng bạn không đồng ý bạn có thể làm đơn xin ly hôn đơn phương. Hồ sơ xin ly hôn đơn phương gồm có:

- Đơn xin ly hôn đơn phương

- Sổ hộ khẩu, CMND photo của hai vợ chồng

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính

- Giấy khai sinh của con bản sao

Bạn nộp hồ sơ tại TAND nơi chồng bạn cư trú, làm việc. Thời gian giải quyết từ 4 đến 6 tháng.

Về giành quyền nuôi con

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định:

"2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Trong trường hợp của bạn, bạn cần phải xem xét chính xác con gái bạn hiện được bao nhiêu tháng tuổi. Nếu cháu chưa đủ 36 tháng, thì về mặt nguyên tắc, cháu sẽ do bạn trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp bạn không có điều kiện trực tiếp để trông nom, chăm sóc con. Còn đối với trường hợp cháu đủ 3 tuổi. Do đó, nếu hai vợ chồng bạn thỏa thuận rằng bạn là người nuôi con thì bạn có thể được nuôi con. Trường hợp, hai vợ chồng bạn không thỏa thuận được về vấn đề nuôi con, Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để đưa ra phán quyết bên nào là bên được trực tiếp nuôi dưỡng con.

Những điều cần lưu ý: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thủ tục ly hôn thực hiện như thế nào ? Cần những giấy tờ gì ? Hướng dẫn viết đơn ly hôn ?

5. Tư vấn thủ tục và thời gian ly hôn đơn phương ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em và chồng em (được gọi là chồng) vì bọn em mới đăng kí kết hôn, chưa tổ chức cưới, chưa chung sống. Sau khi đăng kí kết hôn, chờ ngày cưới thì mâu thuẫn xảy ra, và anh ấy có hành vi xúc phạm đến nhân phẩm em và gia đình em.....( kể cả chửi tục và lăng mạ....).

Khi mâu thuẫn đến đỉnh điểm, gia đình em và em đã quyết định hủy hôn. Vậy em hỏi luật sư là giờ em muốn ly hôn, thì thủ tục đầy đủ như thế nào và thời gian là bao lâu ?

Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì : "Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn."

Điều 56 Luật HNGĐ quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy nếu chị thuộc trường hợp trên thì chị có thể xin ly hôn đơn phương.

Về thẩm quyền giải quyết ly hôn thì căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định tại các điều 33, Điều 35 như sau:

"Điều 33. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

1. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này...

Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;..."

Về thời hạn giải quyết việc ly hôn được quy định như sau:

Căn cứ (Điều 171 BLTTDS, điểm a khoản 1 Điều 179 BLTTDS) thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa là 4 tháng kể từ ngày thụ lý, nếu vụ án phức tạp thì có thể gia hạn thêm 2 tháng nữa (nghĩa là 6 tháng) (quy định tại điểm b khoản 1 Điều 179 BLTTDS).

Hồ sơ:

- Bản chính Đăng ký kết hôn;

- Bản sao có chứng thực CMN, sổ hộ khẩu của vợ,chồng;

- Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh của con;

- Đơn xin ly hôn( theo mẫu);

- Các giấy tờ chứng minh tài sản;

>> Xem ngay: Tư vấn về hồ sơ ly hôn đơn phương khi không có giấy tờ của chồng ?

6. Nộp hồ sơ ly hôn đơn phương ở đâu ?

Thưa Luật sư! Xin cho em hỏi, em muốn đơn phương ly hôn, em nộp hồ sơ tòa án cấp quận nơi vợ chồng em đang sinh sống ( 2 vợ chồng em sống cùng 1 Quận nhưng khác phường ) Tuy nhiên Tòa án nói thiếu giấy xác nhận nơi cư trú của 2 vợ chồng em và không nhận đơn xin ly hôn của em . Việc xác nhận nơi cư trú của em thì đơn giản nhưng vấn đề là chồng em thì hộ khẩu nằm ở phường Hòa Xuân , Trong khi đó về nhà em ở tại phường Hòa Thị Đông thì chồng em không làm tạm trú ở phường em. Vậy làm sao xác nhận nơi cư trú của chồng em được Luật sư. ( cưới xong thì 2 vợ chồng em sống ở phường Hòa Thọ Đông ). có cách gì để làm giấy xác nhận được cả 2 vợ chồng cùng sống ở Hòa Thọ Đông không luật sư ?.( Vợ chồng em làm đăng ký kết hôn tại Phường Hòa Thọ Đông ) Và Nếu không có tờ giấy xác nhận nơi cư trú thì không ly hôn được phải không Luật sư ?
Em xin chân thành cảm ơn.

Nộp hồ sơ ly hôn đơn phương ở đâu ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Dựa trên thông tin chị cung cấp cho chúng tôi , chúng tôi xin tư vấn vấn đề của chị như sau :

1. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hồ sơ xin ly hôn đơn phương bao gồm:
- Đơn xin ly hôn;
- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;
- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng
- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng
- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…
- Bản sao giấy khai sinh của con.

2. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án
- Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của là tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú.
- Trường hợp không biết thông tin về nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết được quy tại điểm a, khoản 1, Điều 36
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 Theo đó, “nếu không biết nơi cư trú, làm việc,trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc,có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết”. Tại điểm a, khoản 1, Điêù 33 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định thẩm quyền xét xử về hôn nhân (không có yếu tố nước ngoài) thuộc TAND cấp huyện, nên trường hợp này bạn nộp hồ sơ yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình tại TAND cấp huyện nơi chồng bạn cư trú.

Như vậy, Khi ly hôn đơn phương bạn sẽ chuẩn bị các giấy tờ nêu trên và nộp tại tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn cư trú.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thủ tục ly hôn đơn phương và giành quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê